Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 178/2024/HS-PT

Ngày 15 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Minh Tâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn và ông Trần Minh Hải

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trương Phan Yến Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 317/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo: Bùi Văn C, sinh ngày 06/4/1964, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp L, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Nguyễn Thị T1; vợ là Nguyễn Thị H và có 05 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 1994, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đã chấp hành xong hình phạt; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 13/7/2023, Bùi Văn C tổ chức uống rượu tại nhà thuộc ấp L, xã T, huyện C cùng với Nguyễn Văn T2, Dương Văn M và Nguyễn Văn Đ. Trong lúc uống rượu thì giữa Chất và M xảy ra mâu thuẫn về việc hát nhạc bằng loa dẫn đến cự cãi. Chất nhặt lấy đoạn gỗ tràm dài 70cm ở đống củi cầm trên tay phải rượt đánh M thì được T2 chạy theo để can ngăn. Tức giận, việc T2 can ngăn không cho đánh M nên C cầm đoạn gỗ tràm đánh 01 cái trúng vào vùng trán trái, rồi dùng tay trái đánh liên tiếp trúng vào vùng miệng, mũi, cổ phía sau gáy và dùng chân trái đá làm T2 té ngã xuống đường bất tỉnh, rồi bỏ đi vào nhà. Riêng Tư được gia đình đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy - Thành phố H cấp cứu, điều trị đến ngày 20/7/2023 thì xuất viện. Sau khi sự việc xảy ra, C đã bồi thường cho bị hại T2 số tiền 9.000.000 đồng.

Ngày 21/11/2023, C bị khởi tố để điều tra.

* Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 543/23/KLTTCT-TTPY ngày 17/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận:

  1. Các kết quả chính:
    • - Sẹo mờ trán phải kích thước (0.5 x 0.1) cm: là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
    • - Chấn thương vùng mũi:
      • + Sây sát da vùng sống mũi để lại sẹo mờ kích thước (01 x 0.2) cm, tỷ lệ là 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
      • + Gây gãy xương chính mũi, điều trị bảo tồn, tỷ lệ là 07% (không bảy phần trăm). Do vật tày gây nên.

      Tỷ lệ tổn thương cơ thể do chấn thương vùng mũi là 08% (không tám phần trăm).

    • - 02 (hai) sẹo môi trên lệch phải cạnh nhân trung, gần tiệp màu da lành, hơi lồi, bờ nham nhở.
      • + Vết 01: kích thước (1.5 x 0.2) cm, đứng dọc, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
      • + Vết 02: kích thước (01 x 0.1) cm, hơi xiên, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (không một phần trăm). Do vật tày gây nên.
    • - Chấn thương vùng cột sống cổ, gây:
      • + Dập phù tủy cổ ngang mức C3/4, C4/5.
      • + Yếu liệt tứ chi ngay sau chấn thương ngày 15/11/2023 với sức cơ: Tay phải 1/5; Tay trái 1/5; Chân phải 3/5; Chân trái 1/5.
      • + Tại thời điểm giám định ngày 31/7/2023 tình trạng yếu liệt tứ chi có phục hồi với sức cơ: Tay phải: 5/5; Tay trái: 3/5 yếu vừa; Chân phải: 5/5; Chân trái: 4/5.

    Hiện tại: yếu ½ người trái mức độ nhẹ. Có phục hồi về vận động và cảm giác.

    Tỷ lệ tổn thương cơ thể do chấn thương dập phù tủy cổ, gây yếu ½ người trái mức độ nhẹ là 36% (ba mươi sáu phần trăm). Chấn thương trực tiếp do vật tày tác động.

  2. Kết luận:

    Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Nguyễn Văn T2, áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư tại thời điểm giám định là: 43% (Bốn mươi ba phần trăm).

  3. Kết luận khác: Thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ tầng C3-C4, C4-C5, hẹp ống sống là bệnh lý có sẵn nên không tính tỷ lệ tổn thương cơ thể.

- Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C thu giữ: 01 đoạn gỗ tràm dài 70 cm, đường kính 04 cm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Văn C 06 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Bùi Văn C có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn T2 số tiền còn lại là 63.900.000 đồng.

Ngoài ra, còn tuyên về xử lý vật chứng, tính án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/9/2024, bị cáo Bùi Văn C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không đồng ý bồi thường tiền mất thu nhập 36.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Bùi Văn C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và không đồng ý bồi thường tiền mất thu nhập 36.000.000 đồng.

Bị hại Nguyễn Văn T2 yêu cầu giữ nguyên mức bồi thường theo bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Bùi Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 13/7/2023, tại ấp L, xã T, huyện C, tỉnh An Giang, bị cáo Bùi Văn C đã có hành vi dùng đoạn gỗ tràm dài 70cm, đánh 01 cái trúng vào vùng trán trái, rồi dùng tay trái đánh liên tiếp trúng vào vùng miệng, mũi, cổ phía sau gáy và dùng chân trái đá bị hại Nguyễn Văn T2 gây thương tích với tỷ lệ là 43%. Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý. Trong vụ án này, giữa bị hại với bị cáo không có mâu thuẫn gì, chỉ vì nghi ngờ bị hại bênh vực M mà bị cáo có hành vi dùng đoạn gỗ tràm dài 70cm là loại hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 43%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng tù là có căn cứ. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ hình phạt nào mới nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo không đồng ý bồi thường tiền mất thu nhập 36.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Thương tích của bị hại là do bị cáo gây ra, đến nay sức khoẻ của bị hại chưa hồi phục, vẫn còn tiếp tục điều trị và phải nhờ người thân chăm sóc, hiện nay vẫn chưa lao động được. Trước khi bị thương tích, bị hại đi làm hồ, theo mức thu nhập bình quân tại địa phương (khoảng tháng 7/2023) là 200.000 đồng/01 ngày cho 01 ca làm việc khoảng 05 tiếng. Do đó cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải bồi thường tiền mất thu nhập cho bị hại (06 tháng x 30 ngày) x 200.000 đồng/01 ngày = 36.000.000 đồng là hoàn toàn có căn cứ nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thống nhất tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại các chi phí bao gồm chi phí tiền thuốc, điều trị là 28.000.000 đồng, tiền ăn và mất thu nhập của người nuôi bệnh 5.000.000 đồng; chi phí xe đi điều trị 3.900.000 đồng. Tổng cộng 36.900.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bị cáo C phải bồi thường cho bị hại T2 là 36.000.000 đồng + 36.900.000 đồng = 72.900.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 9.000.000 đồng, bị cáo C đã giao cho bị hại T2 theo biên nhận ngày 17/7/2023 và ngày 24/7/2023. Bị cáo C phải bồi thường cho bị hại T2 số tiền còn lại 63.900.000 đồng.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Bùi Văn C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 67/2024/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bùi Văn C 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Bùi Văn C có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn T2 số tiền còn lại 63.900.000 đồng (Sáu mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Bùi Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân huyện Châu Phú;
  • - Công an huyện Châu Phú;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú;
  • - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh An Giang;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Toà Hình sự; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Phan Thị Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 178/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn C phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger