|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày 23/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Duy Bảo.
Ông Trần Xuân Thành.
Ông Trần Mai Khanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 23/10/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLPT-HS ngày 02/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Thào A T, tên gọi khác: không; Sinh ngày 17 tháng 9 năm 1991 tại: huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Mông; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào A S; Sinh năm 1952; con bà Vàng Thị N; Sinh năm 1955; có vợ: Vàng Thị S1, Sinh năm 1990; Con có 4 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
2. Họ và tên: Thào A C, tên gọi khác: không; Sinh ngày 06 tháng 7 năm 1981 tại: tỉnh Sơn La Nơi cư trú: bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không đi học; dân tộc: Mông; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Thào A S; Sinh năm 1952; con bà Vàng Thị N; Sinh năm 1955; có vợ: Vàng Thị C1, Sinh năm 1981; Con có 3 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 12/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A T: Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1991, Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn luật sư tỉnh N. Địa chỉ: khối C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A C: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1993, Luật sư thuộc Công ty L1. Địa chỉ: số A đường H, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vàng Thị S1, sinh năm 1990. Nơi cư trú: bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 12/12/2023, tại khu vực bên trong bến xe B, thuộc xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác Công an thành phố V đang làm nhiệm vụ phát hiện có 02 người đàn ông vừa xuống xe khách Hoàng A1, mang biển số 26F - 0014 chạy từ tỉnh Sơn La về thành phố V, một người xách túi vải màu đỏ đen (là Thào A C, sinh năm 1981, trú tại: bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La) và một người kéo va ly màu đen (là Thào A T, sinh năm 1991, trú tại: bản T, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La) có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trong va ly màu đen mà Thào A T đang cầm có một chiếc túi đựng đồ bằng vải kẻ ca rô loại có 02 quai xách, trong đó có: 06 bao ni lông đều chứa chất tinh thể màu trắng, có tổng khối lượng 5.758 gam (nghi là ma túy Methamphetamine); 01 bao ni lông màu trắng, bên trong có 02 khối hình hộp chữ nhật đều chứa chất cục màu trắng, có tổng khối lượng 701 gam (nghi là ma túy Heroine); 01 gói được bọc ngoài cùng bằng bao ni lông màu trắng, bên trong có 32 gói chứa nhiều viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều in chữ “WY”, có tổng khối lượng 640 gam (nghi là ma túy Methamphetamine), nên đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của Thào A T, Thào A C như sau:
Qua mạng xã hội Facebook, Thào A T quen biết người đàn ông tên P người dân tộc Mông nhà ở Lào (không rõ lai lịch cụ thể), sử dụng tài khoản Facebook tên “Pao Pao”. Pó đặt vấn đề thuê T vận chuyển ma túy từ huyện M, tỉnh Sơn La vào thành phố V, tỉnh Nghệ An, thỏa thuận sẽ trả tiền công 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng) sau khi hoàn thành, Thông đồng ý.
Ngày 10/12/2023, P gọi qua ứng dụng M cho T nói đến khu vực bản người Mông ở gần ngã ba T thuộc huyện M, tỉnh Sơn La nhận và vận chuyển ma túy vào thành phố V, tỉnh Nghệ An để giao cho một người sử dụng số điện thoại 0586.848.xxx. Sau khi thống nhất với P, T đến nhà Thào A C (trú cùng bản là anh trai của T) rủ C cùng tham gia vận chuyển ma túy, tiền công sẽ chia đôi, C đồng ý.
Trưa cùng ngày, T sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda - Airblade, biển kiểm soát 26G1-252.22 chở C đi đến khu vực ngã ba T (gần thị trấn M), khi cách điểm hẹn khoảng 02 km, T dừng xe nói Cang đi một mình vào khu vực bản người Mông để nhận ma túy từ chiếc xe bán tải màu trắng dừng bên đường. Theo chỉ dẫn, C điều khiển xe máy đi theo hướng vào bản người Mông, khi thấy chiếc xe bán tải màu trắng (không nhớ loại xe, biển kiểm soát), C đến gần thì có một người đàn ông ngồi ở ghế lái hạ kính và đưa cho C một túi bằng vải loại có hai quai xách, bên ngoài có dòng kẻ caro nhiều màu bên trong chứa ma túy. Nhận ma túy, C quay lại đón T rồi cả hai đi về nhà Cang cất dấu.
Khoảng 18 giờ ngày 10/12/2023, T mang theo một chiếc va ly màu đen từ nhà đến đưa cho C rồi đi về. Cang xếp 08 (tám) gói ma túy cùng chiếc túi vải vào va ly rồi cất tại nhà.
Vào lúc 21 giờ, ngày 11/12/2023, Thào A T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda - A, biển kiểm soát 26G1-252.22 từ nhà sang đón Thào A C mang theo chiếc va ly chứa ma túy, rồi điều khiển xe máy đi đến khu vực ngã ba T gửi lại xe máy tại quán tạp hóa. Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả hai lên xe khách Hoàng A1, mang biển số 26F - 0014 vào thành phố V, T xách theo va li chứa ma túy để sau ghế nằm của T.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 12/12/2023, khi xe khách Hoàng A1 về gần đến bến xe B (thuộc xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An), T lấy máy điện thoại của C gọi điện cho người nhận ma túy sử dụng số điện thoại 0586.848.xxx báo gần đến điểm hẹn. Khi xe vào trong bến xe B, Thào A T xách va ly màu đen đựng ma túy xuống xe thì bị Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Tại thời điểm vừa bị bắt giữ, Thào A T và Thào A C đều khai nhận đó là ma túy nhận từ người Lào tên P vận chuyển từ huyện M, tỉnh Sơn La vào thành phố V giao cho người sử dụng số điện thoại 0586.848.xxx để nhận tiền công.
Kết luận giám định số: 1052/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 20/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:
"Mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ của Thào A T và Thào A C gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Số chất tinh thể màu trắng trong bao ni lông màu xanh có in chữ nước ngoài thu giữ của Thào A T và Thào A C có khối lượng là 758g (bảy trăm năm mươi tám gam).
- 05 mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M2 đến M6) thu giữ của Thào A T và Thào A C gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Số tinh thể màu trắng trong 05 bao ni lông màu vàng có in chữ nước ngoài thu giữ của Thào A T và Thào A C có tổng khối lượng là 5.000g (năm nghìn gam).
- 02 mẫu chất cục bột màu trắng (ký hiệu M7, M8) thu giữ của Thào A T và Thào A C gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine. Số chất cục bột màu trắng thu giữ của Thào A T và Thào A C có tổng khối lượng là 701g (bảy trăm không một gam).
- 32 mẫu viên nén hình tròn, màu hồng (ký hiệu từ M9 đến M40) thu giữ của Thào A T và Thào A C gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine. Số viên nén hình tròn, màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều in chữ “WY” thu giữ của Thào A T và Thào A C có tổng khối lượng là 640g (sáu trăm bốn mươi gam)".
Bị cáo Thào A T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Đối với Thao A C2, trong quá trình bị tạm giữ tại Công anh thành phố V, ngày 14/12/2023, Thào A C thay đổi lời khai không tham gia vận chuyển ma túy cùng Thào A T mà chỉ đi chơi cùng. Từ ngày 14/12/2023 và đến nay Thào A C không khai báo đúng sự thật hành vi phạm tội của mình.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã căn cứ vào lời khai nhận tội của Thào A C tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12 tháng 12 năm 2023; Biên bản ghi lời khai Thào A Cang ngày 12 tháng 12 năm 2023 (có 04 Biên bản thừa nhận hành vi phạm tội, trong đó có 02 bản có kiểm sát viên tham gia: 03 Video ghi âm, ghi hình Thào A C khai nhận tội khi bị tạm giữ phù hợp lời khai nhận tội của Thào A T trong quá trình điều tra vụ án về việc rủ Thào A C đi lấy ma túy ở cầu khu vực ngã ba T rồi vận chuyển ma túy về thành phố V để lấy tiền công; Biên bản đối chất giữa Thào A T và Thào A C ngày 17/7/2024, T giữ nguyên lời khai về hành vi phạm tội của Thào A C và xin giảm nhẹ hình phạt cho anh trai (là 02 anh em ruột); Biên bản làm việc ngày
12/7/2024, thành phần tham gia có Điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư bào chữa, bị can Thào A C đã mở 03 đoạn ghi âm, ghi hình lời khai của Thào A C vào ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Công an thành phố V cho C xem và nghe, C đã thừa nhận hình ảnh, âm thanh là do C khai báo và việc khai báo hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung hay nhục hình (BLHS 262 - 263); Biên bản hỏi cung bị can Thào A C và phúc cung của kiểm sát viên vào ngày 07/8/2024, 19/8/2024, 20/9/2024, Thào A C tiếp tục thừa nhận việc xếp túi ca rô (trong đó có ma túy) vào va ly và đã cùng Thào A T đưa chiếc va ly lên xe khách Hoàng A1 để vào thành phố V thì bị bắt giữ và xin nhận sự khoan hồng của pháp - để làm căn cứ kết luận và truy tố đối với Thào A C.
Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 758g ma túy (Ketamine), đã lấy 72g gửi giám định còn lại 686g; 5.000g ma túy dạng đá (Methamphetamine), đã lấy 234g gửi giám định còn lại 4.766g; 701g ma túy (H), đã lấy 61g gửi giám định còn lại 640g; 640g ma túy Methamphetamine (hồng phiến) đã lấy 64g gửi giám định còn lại 576g; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA số loại AIR BLADE, biển kiểm soát 26G1-252.22, xe cũ đã qua sử dụng thu giữ của Thào A T. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen; 01 va ly kéo màu đen đã qua sử dụng bên trong có 01 túi vải loại có 02 quai xách kẻ ca rô đã qua sử dụng thu giữ của Thào A C.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Thào A T và Thào A C về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy theo điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Thào A T khai nhận về hành vi như cáo trạng truy tố. Thào A T khai nhận việc thỏa thuận với P vận chuyển ma túy để lấy tiền công; rủ rê Thào A C tham gia cùng; Thào A C và Thào A T đã cùng đi nhận ma túy và Thào A C là người trực tiếp nhận ma túy từ người Lào vào trưa ngày 10/12/2023 đưa về nhà C, sau đó C cùng T đưa ma túy vào thành phố V.
Bị cáo Thào A C không thừa nhận hành vi vận chuyển ma túy với lý do: bị cáo không biết trong valy có ma túy, bị cáo không thỏa thuận với T về việc vận chuyển ma túy; gói ma túy bị thu giữ trong valy khi bị bắt là do C bỏ vào valy để sắp xếp cho gọn, nhưng khi bỏ vào valy thì C không biết trong đó là ma túy; bị cáo không đi cùng T để lấy ma túy như cáo trạng truy tố; việc bị cáo có mặt cùng khi bị bắt là T rủ đi chơi cùng.
Bà Vàng Thị S1, đề nghị trả lại chiếc xe máy cho gia đình, là tài sản chung của vợ chồng, khi Thào A T sử dụng vận chuyển ma túy, bà không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm h, khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Thào A T – tử hình; căn cứ điểm h, khoản 4 Điều 250, Điều 17, 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thào A C – tù chung thân. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho các bị cáo. Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A T đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại Điều 51 Bộ luật hình sự, gồm: điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) điểm t (bị cáo đã khai báo hành vi phạm tội của Thào A C, giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án) khoản 1; khoản 2 (bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn) – để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A C tranh luận cho rằng: có sự không thống nhất trong lời khai của Thào A T về người trực tiếp nhận ma túy (khi thì khai là T nhận, khi thì khai là C nhận); mâu thuẫn lời khai về số tiền các bị cáo nhận được khi vận chuyển ma túy; không có căn cứ xác định Thào A C biết ma túy và tham gia vận chuyển ma túy; việc sử dụng lời khai nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội là không đúng quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự. Đề nghị xem xét việc truy tố bị cáo Thào A C về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Các bị cáo Thào A T, Thào A C không tranh luận.
Nói lời sau cùng trước khi nghị án bị cáo Thào A T đề nghị được giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Thào A C không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội
Vào khoảng 07h00 ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại bến xe B (thuộc xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An); Thào A T cùng Thào A C có hành vi vận chuyển 05 gói ni lông chứa 5.000 gam ma túy (Methamphetamine); 01 gói ni lông chứa 758 gam ma túy (ketamine); 02 bánh ma túy (H) khối lượng 701 gam; 32 gói ma túy (Methamphetamine) khối lượng 640 gam dạng viên nén trên xe khách Hoàng A1, Biển số 26F - 0014 từ huyện M, tỉnh Sơn La đến thành phố V, tỉnh Nghệ An cho một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) để nhận 50.000.000 đ tiền công thì bị Công an thành phố V phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo Thào A T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.
Bị cáo Thào A C không thừa nhận hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử nhận định như sau. Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, gồm: lời khai nhận tội của Thào A C tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12 tháng 12 năm 2023; Biên bản ghi lời khai Thào A Cang ngày 12 tháng 12 năm 2023 (có 04 Biên bản thừa nhận hành vi phạm tội); 03 Video ghi âm, ghi hình Thào A C khai nhận tội khi bị tạm giữ; căn cứ lời khai của bị cáo Thào A T trong suốt quá trình tố tụng phù hợp lời khai nhận tội của Thào A C trong suốt quá trình rủ Thào A C đi lấy ma túy ở cầu khu vực ngã ba T rồi vận chuyển ma túy về thành phố V để lấy tiền công; Biên bản đối chất giữa Thào A T và Thào A C ngày 17/7/2024 và lời khai tại phiên tòa (Thào A T giữ nguyên lời khai về hành vi phạm tội của Thào A C và xin giảm nhẹ hình phạt cho anh trai); Biên bản làm việc ngày 12/7/2024, thành phần tham gia có Điều tra viên, kiểm sát viên, luật sư bào chữa, bị cáo Thào A C đã mở 03 đoạn ghi âm, ghi hình lời khai của Thào A C vào ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại Công an thành phố V cho C xem và nghe, C đã thừa nhận hình ảnh, âm thanh là do C khai báo và việc khai báo hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung hay nhục hình – tại phiên tòa Thào A C và Thào A T đều thừa nhận không bị ép cung, mớm cung, không bị dùng nhục hình; Biên bản hỏi cung Thào A Cang các ngày 07/8/2024, 19/8/2024, 20/9/2024 và tại phiên tào Thào A Cang thừa nhận việc xếp túi ca rô (trong đó có ma túy) vào va ly và đã cùng Thào A T đưa chiếc va ly lên xe khách Hoàng A1 để vào thành phố V thì bị bắt giữ; tài liệu trích xuất list cuộc gọi đi và đến của điện thoại Thào A C (số máy 0334275032) có nhiều cuộc gọi đi và đến số máy 0586848564 (số của người nhận ma túy theo lời khai của Thào A T) trong các ngày 10/12, 11/12 và 12/12/2023, trong khi Thào A C khai rằng T chỉ mượn điện thoại của C để liên hệ ngày 12/12/2023 với người nhận ma túy lý do máy của T hết pin; tang vật ma túy thu giữ trong túi vải khi bắt giữ các bị cáo được Thào A C thừa nhận bị cáo đã sắp xếp vào valy tại nhà bị cáo. Tại phiên tòa, cũng như trong suốt quá trình điều tra bị cáo Thào A C không giải thích được lý do vì sao lời khai ban đầu của bị cáo lại phù hợp với lời khai ban đầu và trong suốt quá trình tố tụng của Thào A T, cũng như các chứng cứ khác, như: chiếc vali có tại nhà bị cáo; danh bạ cuộc gọi đi đến của người nhận ma túy....Các chứng cứ này được thu thập khách quan, đúng quy định pháp luật.
Như vậy, căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: các bị cáo Thào A T, Thào A C đã có hành vi nhận ma túy để vận chuyển lấy tiền công, là hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổng khối lượng các loại ma túy các bị cáo vận chuyển và phải chịu trách nhiệm hình sự là: 758g (bảy trăm năm mươi tám gam) Ketamie; 5.640g Methamphetamine; 701g Heroine. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 250 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Vai trò của các bị cáo trong vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo:
[2.1]. Vai trò của các bị cáo trong vụ án.
Trong vụ án này bị cáo Thào A T là người trực tiếp liên hệ, thỏa thuận vận chuyển, tiền công vận chuyển, thời gian và phương thức vận chuyển; bị cáo đã rủ rê Thào A C tham gia thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Đối với Thào A C là người tham gia tích cực vào việc vận chuyển ma túy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đồng phạm với Thào A T trong việc vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng vai trò thấp hơn.
[2.2]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS.
Các bị cáo không có tính tiết tăng nặng TNHS.
Tình tiết giảm nhẹ.
Đối với bị cáo Thào A T, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nội dung người bào chữa đề nghị áp dụng điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Thào A T: xét thấy tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” là trường hợp người phạm tội có những hành vi, lời khai thể hiện sự hợp tác tích cực với cơ quan có trách nhiệm trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan này phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới. Trong vụ án này, ngay từ đầu bị cáo Thào A C đã khai báo rõ ràng về hành vi phạm tội của mình, lời khai các bị cáo thống nhất với nhau và phù hợp với các chứng cứ khác, vì vậy không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo Thào A T.
Đối với Thào A C: Bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, hiểu biết pháp luật hạn chế, vì vậy xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.3] Đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Khối lượng ma túy các bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển là rất lớn, nếu không phát hiện, ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả rất lớn cho xã hội. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm nhưng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện. Trong tình hình hiện nay ma túy là hiểm họa của toàn nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, căn cứ vào tính chất của vụ án và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy cần xử phạt mức án nghiêm khắc để trừng phạt các bị cáo răn đe và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Thào A T, là người phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, mặc dù bị cáo đã thành khẩn khai báo và có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nhưng cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc nhất, loại bỏ bị cáo vĩnh viễn ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng răn đe và đề phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với Thào A C, bị cáo tham gia đồng phạm cùng với Thào A T trong suốt quá trình phạm tội, vai trò của giúp sức tích cực. Tuy nhiên xét, bị cáo là người dân tộc thiểu số, trong vụ án hai bị cáo là hai anh em ruột trong gia đình, vai trò của bị cáo C thấp hơn bị cáo T, vì vậy xem xét áp dụng chính sách nhân đạo của pháp luật, áp dụng hình phạt đối với Thào A C thấp hơn Thào A T, xử phạt bị cáo Thào A C mức án Tù chung thân.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[4] Về vật chứng vụ án: Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 02 điện thoại di động thu giữ của Thào A T và Thào A C là phương tiện các bị cáo dùng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách; 01 valy và 01 túi vải không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; chiếc xe máy thu giữ của Thào A T là phương tiện bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu sung vào ngân sách.
[5] Về án phí: Các bị cáo Thào A T, Thào A C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố các bị cáo Thào A T, Thào A C phạm tội: Vận chuyển trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thào A T - Tử hình về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 250, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Thào A C – Tù chung thân về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/12/2023.
[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy được niêm phong trong hộp cát tông là vật chứng thu của Thào A T và Thào A C ngày 12/12/2023; tịch thu tiêu hủy 01 va ly nhựa màu đen, 01 túi vải kẻ ca rô.
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 thu giữ của Thào A C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y33S thu giữ của Thào A T; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA số loại AIR BLADE thu giữ của Thào A T.
Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thihành án dân sự tỉnh N.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Thào A T, Thào A C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo Thào A T có quyền làm đơn xin Chủ tịch N1 để được ân giảm án tử hình./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Quốc Cường |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thao A Thong vận chuyển ma túy
