|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2024/DS-ST Ngày: 02-10-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Hạnh.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Ton.
- Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thành Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri - Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2024/TLST-DS ngày 25/4/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐST - DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2024/QĐST - DS ngày 18 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N;
- Bị đơn: Anh Huỳnh Thanh T, sinh năm 1981 (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954 (có mặt);
- Chị Huỳnh Thị Thu T2, sinh năm 1978 (vắng mặt);
- Anh Lê Minh Q, sinh năm 1974 (vắng mặt);
- Lê Huỳnh Anh T3, sinh năm 2003 (vắng mặt);
- Lê Huỳnh Anh T4, sinh năm 2005 (vắng mặt);
Địa chỉ: 2 Cách mạng T, phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Trần Ngô Phúc V. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Khải H. Chức vụ: Quyền Tổng giám đốc.
Người được ông Trần Khải H ủy quyền: Anh Trần Huy C. Chức vụ: Giám đốc Phòng G (có mặt).
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Cùng địa chỉ: khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 04/8/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/6/2024 và trong quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Anh Huỳnh Thanh T có ký hợp đồng tín dụng số 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 vay số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất trong hạn 11.3%/năm, lãi suất quá hạn 16.95%/năm, mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh đầu tư quán ăn.
Ngày 14/02/2020 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV, Ngân hàng có cấp thẻ, hạn mức 30.000.000 đồng, thời hạn thẻ là 36 tháng, lãi suất trong hạn 27%/năm, lãi suất quá hạn là 40.5%/năm.
Trong quá trình thực hiện việc trả nợ vay của số nợ vay 500.000.000 đồng thì đến ngày 14/8/2020 anh T đã vi phạm trả vốn và lãi. Ngân hàng nhắc nhở nhưng anh T không thực hiện thanh toán nợ.
Ngân hàng thương mại cổ phần N yêu cầu anh Huỳnh Thanh T trả số tiền một lần sau khi án có hiệu lực, các khoản nợ như sau:
Khoản nợ theo hợp đồng tín dụng 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 tạm tính đến ngày 26/8/2024: Nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 153.919.798 đồng, nợ lãi quá hạn 199.727.260 đồng, lãi chậm trả lãi 38.073.135 đồng.
Khoản nợ theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV ngày 14/02/2020 là 77.573.870 đồng.
Trong thời gian chưa thanh toán nợ, yêu cầu anh T tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp anh T không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP N yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 627255, số vào sổ cấp GCN CS05059 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 07/5/2018 cho anh T để thu hồi nợ.
* Bị đơn anh Huỳnh Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1 trình bày: Bà là mẹ của anh T; bà, con gái, con rể và 02 cháu ở ngôi nhà trên thửa đất anh T thế chấp. Anh T thiếu nợ không có tiền trả, bà xin Ngân hàng cho trả dần đến tháng 12/2024 trả 50.000.000 đồng, đến tháng 12/2025 trả 50.000.000 đồng, đến năm 2026 trả 100.000.000 đồng có nhiều tiền thì trả nhiều hơn. Bà và con cháu có ngôi nhà đó để ở, bà xin trả dần để có chổ ở nhưng Ngân hàng không đồng ý cho trả dần thì bà đồng ý giải quyết theo quy định. Trên đất có ngôi nhà từ trước đến giờ không có thay đổi gì.
* Tại Tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Anh Huỳnh Thanh T có ký hợp đồng tín dụng số 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 vay số tiền là 500.000.000 đồng. Ngày 14/02/2020 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV, Ngân hàng có cấp thẻ, hạn mức 30.000.000 đồng. Do anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên các khoản vay của anh T chuyển sang nợ quá hạn. Ngân hàng Đ và tạo điều kiện nhưng anh T vẫn không thực hiện, anh T đã vi phạm nghĩa vụ thời gian đã lâu nên việc bà Nguyễn Thị T1 là mẹ anh T xin trả dần thì Ngân hàng không đồng ý. Ngân hàng thương mại cổ phần N yêu cầu anh Huỳnh Thanh T trả các khoản nợ 01 lần khi án có hiệu lực pháp luật như sau:
Khoản nợ theo hợp đồng tín dụng 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 tạm tính đến ngày 02/10/2024 nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 154.581.237 đồng, nợ lãi quá hạn 208.656.678 đồng, lãi chậm trả lãi 39.633.946 đồng.
Khoản nợ theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV ngày 14/02/2020 tạm tính đến ngày 02/10/2024 là 78.780.811 đồng (nợ gốc 29.478.836 đồng, lãi trong hạn: 3.394.927 đồng, lãi quá hạn 45.907.048 đồng).
Số tiền lãi phát sinh của khoản tín dụng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký kết cho đến khi anh T thanh toán hết nợ.
Trường hợp anh T không trả hoặc trả không đầy đủ nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CN 627255, số vào sổ cấp GCN CS05059 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 07/5/2018 cho anh T để thu hồi nợ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà không ý kiến về số nợ gốc và lãi. Bà xin cho trả dần tháng 12/2024 trả 50.000.000 đồng, tháng 02/2025 trả 50.000.000 đồng, năm tiếp theo trả 100.000.000 đồng, bà và các thành viên trong nhà chỉ có duy nhất chổ ở này. Nếu Ngân hàng không đồng ý thì bà xin cho thời hạn 06 tháng để bà bán tài sản trả nợ.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đương sự, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ.
Về nội dung: Ngày 13/02/2020 anh Huỳnh Thanh T vay của Ngân hàng TMCP N số tiền 500.000.000 đồng, tiếp đến ngày 14/02/2020 anh T tiếp tục vay để được cấp thẻ tín dụng 30.000.000 đồng. Nhưng sau đó anh T vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng. Nên Ngân hàng yêu cầu anh T trả nợ tính đến ngày 02/10/2024 với số tiền gốc và lãi 981.652.672 đồng là có cơ sở.
Căn cứ 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh T trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 02/10/2024 gốc và lãi là 981.652.672 đồng và tiền lãi phát sinh. Trường hợp anh T không trả nợ đầy đủ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Huỳnh Thanh T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị T2, anh Q xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan T4, T3 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự trên là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1] Hợp đồng tín dụng số 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N với anh Huỳnh Thanh T, nội dung hợp đồng: Anh T vay số tiền là 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất trong hạn 11.3%/năm, lãi suất quá hạn 16.95%/năm, mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh đầu tư quán ăn. Hình thức trả: trả lãi hàng tháng, tiền vốn 06 tháng trả 50.000.000 đồng. Anh T thực hiện trả tiền lãi đến tháng 8/2020 thì vi phạm thanh toán tiền vốn và tiền lãi.
Ngày 14/02/2020 theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV, Ngân hàng có cấp thẻ, hạn mức 30.000.000 đồng, thời hạn thẻ là 36 tháng, lãi suất trong hạn 27%/năm, lãi suất quá hạn là 40.5%/năm. Tháng 5/2020 anh T vi phạm nghĩa vụ.
Bị đơn anh Huỳnh Thanh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; điều đó đồng nghĩa với việc anh T tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
Xét Hợp đồng tín dụng 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020, giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV ngày 14/02/2020 được xác lập giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N và anh T trên cơ sở tự nguyện nhưng do anh T vi phạm thỏa thuận đã giao kết nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả tiền gốc và lãi tính đến ngày 02/10/2024 tổng cộng là 981.652.672 đồng có cơ sở phù hợp theo Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngNgười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T1 xin trả dần tháng 12/2024 trả 50.000.000 đồng, tháng 02/2025 trả 50.000.000 đồng, năm tiếp theo trả 100.000.000 đồng nhưng Ngân hàng không đồng ý và việc xin trả dần cũng không phù hợp nên không được chấp nhận.
[2] Xét hợp đồng thế chấp tài sản số 0028/2020/607-BĐ ngày 13/02/2020 tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CN 627255, số vào sổ cấp GCN CS05059 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 07/5/2018 cho anh T, được đôi bên ký kết là hoàn toàn tự nguyện, đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, có đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực thi hành. Do đó, nguyên đơn yêu cầu khi bản án có hiệu lực pháp luật anh T không trả được nợ hoặc trả không đủ số nợ thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B và tài sản gắn liền với đất theo hợp đồng thế chấp tài sản số 0028/2020/607-BĐ ngày 13/02/2020 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí DS – ST: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn Huỳnh Thanh T phải chịu án phí 36.000.000 đồng +(3% x 181.652.672 đồng) = 41.449.000 đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 318, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ Điều 91 và khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N. Buộc bị đơn anh Huỳnh Thanh T trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N các khoản nợ:
- Về án phí DS-ST: 41.449.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi chín ngàn đồng) bị đơn anh Huỳnh Thanh T phải chịu và có nghĩa vụ nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Khoản nợ theo hợp đồng tín dụng 00045/2020/607-CV ngày 13/02/2020 tính đến ngày 02/10/2024 là 902.871.861 đồng (nợ gốc 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 154.581.237 đồng, nợ lãi quá hạn 208.656.678 đồng, lãi chậm trả lãi 39.633.946 đồng).
Khoản nợ theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 0053/2020/607-CV ngày 14/02/2020 tính đến ngày 02/10/2024 là 78.780.811 đồng (nợ gốc 29.478.836 đồng, lãi trong hạn: 3.394.927 đồng, lãi quá hạn 45.907.048 đồng).
Anh Huỳnh Thanh T có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 03/10/2024 theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp anh T không trả hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 42 tọa lạc thị trấn B theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CN 627255, số vào sổ cấp GCN CS05059 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 07/5/2018 cho anh T để thu hồi nợ.
H lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 21.841.000 đồng (Hai mươi mốt triệu tám trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004234 ngày 29/3/2024 và biên lai thu tiền số 0002305 ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Hồng Hạnh |
Bản án số 178/2024/DS-ST ngày 02/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 178/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/10/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
