|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST Ngày 18-6-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hoàng Dân và bà Nguyễn Thị Hương Giang.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên
Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/ 2024/ QĐXX - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QÐST - DS ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1988
HKTT: Thôn M, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987
HKTT: Thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội
Chị T có mặt, anh Q vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Trần Thị T trình bày:
- - Về hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện kết hôn vào ngày 25/3/2016, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình anh Q, ở thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội, sau đó vợ chồng chuyển về thôn M, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình ở. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị T đề nghị được ly hôn với anh Q.
- - Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/10/2016; cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/9/2019. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị T. Ly hôn chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai con chung, không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- - Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn, anh Nguyễn Văn Q:
Quá trình giải quyết vụ án, anh Q không đến Tòa làm việc, nên Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã A và làm việc với bà Lê Thị V (là mẹ đẻ anh Q). Qua xác minh cho thấy anh Q vẫn có hộ khẩu thường trú và trú tại thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, Toà án đã nhờ mẹ đẻ anh Q là bà Lê Thị V tống đạt giúp các văn bản tố tụng của Tòa án gồm: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải...
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, phía bà Lê Thị V (là mẹ đẻ anh Q) cũng khẳng định đã liên hệ và thông báo lại cho anh Q nội dung các văn bản tố tụng của Tòa án về việc giải quyết ly hôn nhưng anh Q cố tình không đến Tòa làm việc, nên không rõ quan điểm của anh Q.
Tại phiên toà: Chị Trần Thị T giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T, cho T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q; giao cả hai con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/10/2016; Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/9/2019 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Q đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn Q vẫn có mặt tại nơi cư trú, nhưng không đến Tòa làm việc; quá trình Tòa án thu thập chứng cứ thông qua xác minh tại UBND xã A và làm việc với bà Lê Thị V (là mẹ đẻ anh Q), cho thấy anh Q vẫn cư trú tại địa phương, Tòa án đã nhiều lần giao các văn bản tố tụng cho anh Q thông qua mẹ đẻ anh Q là bà V, bà V cũng khẳng định đã thông báo lại cho anh Q các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn không thấy anh Q đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa làm việc. Vì vậy, không cần sự có mặt của anh Q, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện kết hôn ngày 25/3/2016, bằng việc đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn hai anh, chị chung sống với nhau ngay tại gia đình anh Q, ở thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội, sau đó chuyển về thôn M, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình ở. Thời gian chung sống với nhau chẳng được bao nhiêu, sau đó cả hai không chung sống với nhau nữa, bằng việc anh Q không ở cùng với chị T nữa là một bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh Q tuy không rõ nguyên nhân từ đâu, song đã ẩn chứa những mâu thuẫn, bất đồng hết sức nghiêm trọng. Do thời gian ly thân đã lâu, mọi níu kéo trở nên vô vọng, tình cảm vợ chồng không còn, phía chị T quyết định xin ly hôn anh Q. Quá trình tố tụng, việc anh Q cố tình không chịu đến tòa làm việc không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh Q đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, không còn ý nghĩa. Vì vậy, yêu cầu của chị T xin ly hôn anh Q là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T, cho chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Q.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/10/2016; Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/9/2019. Xét về điều kiện nuôi con giữa chị T và anh Q là ngang nhau, nhưng hiện nay cháu A, cháu M đang ở với chị T, hơn nữa cháu A có nguyện vọng xin được ở với chị T; nên HĐXX nhất trí giao cả hai con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị T chưa yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Q, đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, công nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án do anh Nguyễn Văn Q không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của vợ chồng, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh .
Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
- Về con chung: Giao chị Trần Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là cháu Nguyễn Minh A, sinh ngày 28/10/2016; Nguyễn Anh M, sinh ngày 18/9/2019. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh Q đến khi chị T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Trần Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007849 ngày 23/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Chị T đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn T-Q
