|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày 13-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Sĩ Tiến
- Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh T- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 132/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Mại L(Tên gọi khác: Linh L1), sinh năm 1991 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
Hộ khẩu thường trú: 8 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc T1 (sinh năm 1966) và bà Trịnh Thị Thanh H (sinh năm 1971); chồng là Trịnh Trung H1, sinh năm 1989; có 03 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 19-9-2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 02 (H2) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 198/2013/HS-ST.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11-01-2024 đến ngày 20-01-2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo trú tại: 8 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
2. Bùi Trung N, sinh năm 1999 tại tỉnh Hậu Giang;
Hộ khẩu thường trú: 2/1B ấp N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn D (sinh năm 1965) và bà Nguyễn Thị H3 (sinh năm 1962);
Tiền án: Ngày 26-4-2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án Hình sự số 95/2022/HSST.
Tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 11-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 40 phút, ngày 11/01/2024, tại nhà số C đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, lực lượng Biên phòng cửa khẩu cảng B, bắt quả tang Bùi Trung N và Trần Mai L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt (N và L khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá). Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an P, thành phố V đã chuyển hồ sơ, tang vật cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để tiến hành điều tra, xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, Trần Mai L và Bùi Trung N khai nhận: L và N là đối tượng nghiện ma túy và cả 2 có quan hệ tình cảm và chung sống với nhau từ tháng 9/2023 cho đến nay tại nhà nghỉ N1 ở địa chỉ số E đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên vào khoảng 21 giờ ngày 10/01/2024, L đi đến khu vực đường T, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gặp một người phụ nữ tên Ngọc A, (không rõ nhân thân lai lịch), để hỏi mua một gói ma túy đá với số tiền là 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng). Ngọc A đồng ý bán ma túy cho L và L thanh toán tiền mặt cho Ngọc A. Sau khi mua được ma túy, L mang về phòng VIP 1, nhà nghỉ N1 ở địa chỉ số E đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, L cùng N đi xem Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử chồng của L là Trịnh Trung H1, về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau đó, L và N đi về một căn nhà của L thuê ở tại số C đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, để nghỉ ngơi. Khi đến nơi, L vào nhà trước và N đi về phòng VIP 1, nhà nghỉ N1 ở địa chỉ số E đường L, Phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, để lấy 01 (một) gói ma túy đá để cùng sử dụng. N điều khiển xe máy biển số 72H1 - 203.14 đi lấy gói ma túy về vừa đến nhà tại số C đường B, Phường A, thành phố V thì bị lực lượng phòng chống ma túy thuộc Biên phòng cửa khẩu cảng B, phát hiện bắt quả tang Bùi Trung N cùng Trần Mai L về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy cùng tang vật. Lực lượng chức năng tiến hành lập biên bản và niêm phong tang vật theo quy định. Sau đó, lực lượng chức năng tiến hành khám xét nơi ở của L và N nhưng không thu giữ đồ vật tài sản gì thêm.
Tại Kết luận giám định số 116/KL-KTHS-MT, ngày 15/01/2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B kết luận: Số ma túy thu giữ của L, N (01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất kết tinh không màu trong suốt) gửi giám định có khối lượng 2,8298 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine
Lời khai của Trần Mai L, Bùi Trung N phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ thu thập được (các bút lục điều tra từ số 76 đến số A).
Quá trình điều tra, L và N thật thà khai báo, ăn năn hối cải, N phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
* Cơ quan Công an thu giữ vật chứng và các tài sản gồm:
- - 01 (Một) xe máy hiệu HONDA 150I; Biển số 72H1 - 203.14; Số máy: KF26E0005658; Số khung: 2517GY 005891. Qua điều tra xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, trả lời kết quả như sau: Chiếc xe máy do Lê Trường S, (địa chỉ: ấp P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu) đứng tên chủ sở hữu, qua làm việc với Lê Trường S cho biết chiếc xe máy mang biển số trên S đã bán cho cửa hàng mua bán xe cũ A Đ ở A đường L, Phường T, thành phố V tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sau đó cửa hàng bán lại chiếc xe máy này cho ông Trần Quốc T2, (sinh năm 1966; Nơi thường trú: 8 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là bố ruột của Trần Mai L; Ông T2 trong quá trình sử dụng không có liên quan đến vụ án nào, cũng không có ai tranh chấp, việc Trần Mai L sử dụng xe máy đi sử dụng ma túy thì ông T2 hoàn toàn không biết, nên Cơ quan điều tra Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe máy trên cho ông T2 tiếp tục sở hữu.
- - 01 (Một) phong bì niêm phong số 116, ngày 15/01/2024 của Phòng K, Công an Tỉnh B bên trong có 01 gói nylon hàn kín chứa 1,9870 gam ma túy loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định.
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8; số Imei 1: 863921065592530; Số I2: 863921065592522.
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE X; số Imei: 354876094349375;
- * Tất cả vật chứng và các tài sản trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự TP Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS ngày 24-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu truy tố Trần Mai L và Bùi Trung N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm Hình sự: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Mai L từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Trung N từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-01-2024.
- Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong kết luận số 116/KL-KTHS-MT ngày 15-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- + Trả lại cho bị cáo N: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X Imei: 354876094349375
- + Trả lại cho bị cáo L: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPo Reno 8, số Imei 1: 863921065592530, số Imei 2: 863921065592522.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1] Về tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.
-
[2]Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:
Vào lúc 10 giờ 40 phút, ngày 11/01/2024, tại nhà số C đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cơ quan chức năng bắt quả tang bị cáo N và L có hành vi tàng trữ trái phép 2,8298 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Như vậy, hành vi của bị cáo N và L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu.
-
[3] Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
-
[4] Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
- [4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N đã bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo L không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
- [4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo L đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo N; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
-
[5]Về xử lý vật chứng:
Đối với chất ma túy chứa trong 01 (Một) gói niêm phong kết luận số 116/KL-KTHS-MT ngày 15-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno 8, số Imei 1: 863921065592530, số Imei 2: 863921065592522 của bị cáo L, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo L.
Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số Imei: 354876094349375 của bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo N.
-
[6]Về vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ tên Ngọc A (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma túy cho bị cáo L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật nên không xem xét.
-
[7] Về án phí:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về Trách nhiệm Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Mai L và bị cáo Bùi Trung N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Trần Mai L 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian đã bị tạm giam tính từ ngày 11-01-2024 đến ngày 20-01-2024.
- Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trung N 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-01-2024.
- Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự,
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong kết luận số 116/KL-KTHS-MT ngày 15-01-2024 của Phòng K Công an tỉnh B.
- - Trả lại cho bị cáo N: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X Imei: 354876094349375
- - Trả lại cho bị cáo L: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPo Reno 8, số Imei 1: 863921065592530, số Imei 2: 863921065592522.
(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Vũng Tàu theo Biên bản giao nhận vật chứng số 180/ BB.CCTHA ngày 03 tháng 5 năm 2024).
-
3. Án phí Hình Sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
Bị cáo N và bị cáo L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
-
4. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Mai L bị xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Bùi Trung N bị xử phạt 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
