TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/DS-ST Ngày: 11-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dư Văn Thanh
Ông Hà Văn Châu
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Như Ý, Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 423/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 429/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nhâm Bích T, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Số D, đường T, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1965, trú tại: Số A, đường K, Khóm F, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2024 - có mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Trung K (vắng mặt)
- Địa chỉ: A, số F, khu dân cư T, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 11 năm 2023 của nguyên đơn bà Nhâm Bích T và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh D trình bày:
Ngày 13-5-2022, bà Nhâm Bích T cho ông Nguyễn Trung K vay số tiền 900.000.000 đồng. Thời hạn vay 6 tháng từ ngày 13-5-2022 đến ngày 13-11-2022. Kể từ ngày vay đến nay ông K không trả tiền lãi và tiền vốn cho bà T. Cụ thể số tiền như sau (vốn 900.000.000 đồng, lãi là 18 tháng từ ngày 13-5-2022 đến ngày 13-11-2023: 18 tháng x 1,66%/tháng x 900.000.000 đồng = 26.892.000 đồng.)
Nay nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Trung K phải trả cho bà số tiền vốn 900.000.000 đồng và số tiền lãi đến ngày 10/9/2024 theo mức lãi suất 1,66%/tháng x 900.000.000 đồng = 26.892.000 đồng. Tổng cộng là 926.892.000 đồng.
Tại phiên tòa, phía nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu trả tiền lãi. Cụ thể là nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 14/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/9/2023 (8 tháng 27 ngày) trên số tiền vốn còn nợ là 900.000.000 đồng, thành tiền là 66.483.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trung K đã được Toà án Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án. Nhưng ông K không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như tham gia phiên toà nhưng ông K đều vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa. Đối với bị đơn ông Nguyễn Trung K đã không chấp hành việc có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án.
Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về sự vắng mặt của bị đơn, ông Nguyễn Trung K đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu trả tiền lãi. Hội đồng xét xử xét thấy, việc nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và việc thay đổi này không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện cho nên căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn.
- Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Trung K trả cho bà T số tiền vốn vay còn nợ là 900.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn cho rằng ông Nguyễn Trung K có vay của bà T số tiền 900.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu của mình, nguyên đơn cung cấp chứng cứ là “Hợp đồng vay tiền” ngày 13/5/2022 có nội dung: “Bà Nhâm Bích T cho ông Nguyễn Trung K vay với số tiền 900.000.000đ...”.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Trung K, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có ý kiến cũng như không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để bác bỏ chứng cứ của nguyên đơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ của nguyên đơn để xác định bị đơn ông K có vay và nợ nguyên đơn số tiền 900.000.000 đồng.
Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền vốn vay còn nợ là 900.000.000 đồng.
- Xét yêu cầu tính lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 14/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11/9/2023 (8 tháng 27 ngày) trên số tiền vốn còn nợ là 900.000.000 đồng, thành tiền là 66.483.000 đồng.
Thấy rằng, trong nội dung “Hợp đồng vay tiền” ngày 13/5/2022 các bên không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn trả nợ. Mặc dù, phía nguyên đơn cho rằng có yêu cầu ông K trả nợ nhưng không có tài liệu chứng cứ thể hiện việc yêu cầu trả nợ của nguyên đơn. Theo quy định tại khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự thì: “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Như vậy, có thể xác định thời hạn ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ là từ ngày Tòa án thụ lý vụ án là ngày 14/12/2023 được xem là thời hạn chậm trả. Về mức lãi suất chậm trả phía nguyên đơn yêu cầu tính mức 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi suất chậm trả là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi chậm trả được tính như sau: 900.000.00 đồng x 10%/năm x 8 tháng 27 ngày = 66.483.000 đồng.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị đơn ông Nguyễn Trung K phải chịu án phí số tiền 40.994.490 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Điều 357, 463, 466 và Điều 469 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Nguyễn Trung K trả cho nguyên đơn bà Nhâm Bích T số tiền vốn vay còn nợ là 900.000.000 đồng và tiền lãi 66.483.000 đồng. Tổng cộng cả vốn và lãi là 966.483.000 đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Nguyễn Trung K phải chịu án phí số tiền 40.994.490 đồng.
- - Nguyên đơn bà Nhâm Bích T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 19.903.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001280 ngày 27/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Phước Tài |
Bản án số 178/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 178/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC HĐ vay tài sản
