Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐÓNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2024/DS-ST

Ngày: 10-8-2024;

V/v tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hải Phùng.
  2. Bà Vũ Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội: Bà Phạm Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST-DS ngày 09/4/2024 về: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131 ngày 17/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 144 ngày 12/7/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N (viết tắt là NBank); Trụ sở: Số A T, phường L, quận H, Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T – Tổng Giám đốc; Người được ủy quyền lại: Ông Đoàn Anh T1; Địa chỉ: Số B phố Q, phường T, quận H, Hà Nội. Ông T1 có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991; Đăng ký thường trú tại: Tổ T, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; Địa chỉ: Số B ngõ B M, phường M, quận N, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngân hàng TMCP N do ông Đoàn Anh T1 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thu H và NBank – Chi nhánh H2 có ký hợp đồng thẻ tín dụng, cụ thể: bản Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế (mã khách hàng tại NBank là 153.50106), kèm yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế là các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế.

Theo hợp đồng thẻ tín dụng, bà H đề nghị Ngân hàng phát hành 02 thẻ tín dụng cá nhân cho bà là thẻ V và V; Ngân hàng đồng ý cấp chung hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng.

Sau khi ký hợp đồng, NBank đã giao thẻ cho bà H; Bà H đã nhận thẻ, sử dụng thẻ và vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với NBank.

Tại Điều 10 của các Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế thỏa thuận ... trường hợp có tranh chấp các bên có quyền đưa vụ tranh chấp ra Tòa án có thẩm quyền nơi ngân hàng có (đặt trụ sở) Chi nhánh ký kết để giải quyết.

Khi bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng nhiều lần đôn đốc, bà H có hẹn thanh toán nhưng sau đó trốn tránh, không hợp tác và cũng không trả tiền.

Ngân hàng TMCP N yêu cầu Toà án giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị Thu H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NBank - Chi nhánh H2:

  • Toàn bộ số tiền gốc, lãi, phí tín dụng tạm tính đến hết ngày 14/6/2024 là 54.608.452 đồng, gồm:

    Thẻ V: Nợ gốc 4.763.801 đồng, lãi 1.574.559 đồng; Phí: 5.003.156 đồng

    Thẻ V: Nợ gốc 11.679.192 đồng; Lãi 5.96.773 đồng; Phí: 25.625.971 đồng.

  • Toàn bộ các khoản lãi phát sinh từ ngày 15/6/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị Thu H thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế được thỏa thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng theo quy định.
  • Trường hợp bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì NBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác minh, xử lý tài sản của bà H để thu hồi nợ theo quy định.

* Bị đơn - bà Nguyễn Thị Thu H: Đã được triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa:

Ngân hàng đề nghị Tòa án, xem xét, giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị Thu H thực hiện ngay nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến hết ngày 05/8/2024 là 59.068.008 đồng, gồm: Nợ gốc 16.442.993 đồng; nợ lãi, phí phạt là 42.625.015 đồng; Buộc bà H tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo thỏa thuận tại hợp đồng thẻ tín dụng, kể từ ngày 06/8/2024 cho đến ngày thực tế bà H trả hết nợ cho NBank.

Đề nghị Tòa án tuyên trường hợp bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì NBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác minh, xử lý tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng cảu bà Nguyễn Thị Thu H để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên Tòa có ý kiến:

  • * Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • * Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Luật các tổ chức tín dụng; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác nhận tính đến ngày 05/8/2024 bà H nợ NBank tổng số tiền: 59.068.008 đồng, gồm: Nợ gốc 16.442.993 đồng; nợ lãi, phí phạt là 42.625.015 đồng. Buộc bà H trả NBank số nợ trên; Buộc bà H tiếp tục phải trả NBank lãi phát sinh từ ngày 06/8/2024 đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ theo quy định; Án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Tố tụng:

1.1. Quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tranh chấp phát sinh giữa một bên là cá nhân và một bên là pháp nhân liên quan đến nghĩa vụ thanh toán tiền theo trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp "Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.

1.2. Thẩm quyền: Tại văn bản Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V do bà H ký, bà H và NBank đã thống nhất thỏa thuận mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này, trường hợp không thương lượng được các bên đồng ý giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền nơi có trụ sở chi nhánh của ngân hàng - một bên tham gia trực tiếp ký kết hợp đồng này tại thời điểm khởi kiện.

Nhận thấy: Việc các bên thống nhất lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết là sự tự nguyện của các bên; NBank - Chi nhánh H2 đăng ký trụ sở tại số A C, phường Q, quận Đ, Hà Nội; Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.

1.3. Xét đương sự vắng mặt:

Tại văn bản yêu cầu phát hành thẻ tín dụng ngày 28/8/2020, bà H ghi địa chỉ nơi ở hiện tại ngõ A M, quận N, Hà Nội; tại văn bản ngày 14/7/2021 bà H ghi hiện tại ở số B ngõ B phố M, phường M, quận N, Hà Nội; bà H đăng ký thường trú tại tổ T, phường N, quận K, Hải Phòng. Qua xác minh, cả 02 địa chỉ bà H cung cấp cho Ngân hàng là không chính xác, bà H không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú hiện không rõ sinh sống ở đâu; nơi làm việc do bà H cung cấp thì nay bà H đã nghỉ; Căn cứ Điều 6 Nghị quyết 04/2017 xác định vụ án thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; Quá trình giải quyết vụ án, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Bà H đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt; Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bà H.

[2]. Nội dung:

2.1. Xét hợp đồng thẻ tín dụng:

Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:

Bà H ký văn bản yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V (viết tắt là hợp đồng thẻ tín dụng); theo hợp đồng, bà H đề nghị NBank phát hành 02 thẻ tín dụng cá nhân cho bà là thẻ V và V; Ngân hàng đồng ý cấp chung hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng; Chủ thẻ xác nhận đã đọc, hiểu rõ và cam kết thực hiện đúng các điều kiện của hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thực tế, NBank đã kích hoạt các thẻ tín dụng cho bà H; mã khách hàng của bà H tại NBank là 153.50106.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thu H đã sử dụng thẻ tín dụng.

Nhận thấy: Việc ký kết trên là sự tự nguyện của các bên, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với Điều 116, Điều 118, Điều 119 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý; buộc các bên có quyền, nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện tháng 7/2021 bà H1 đã phát sinh nợ quá hạn tại NBank. Ngân hàng đã đôn đốc, yêu cầu bà H thực hiện nghĩa vụ trả tiền; tính đến ngày 14/7/2021 bà H nợ NBank tổng số tiền 21.318.155 đồng; bà H đề nghị NBank tạo điều kiện và cam kết sẽ thanh toán tối thiểu vào ngày 22 đến 23/7/2021 là 2 đến 3 triệu đồng; tuy nhiên, cho đến nay bà H vẫn không thanh toán.

- Đối với số nợ gốc:

Đối chiếu với số liệu do NBank cung cấp, tính đến ngày 05/8/2024 bà H nợ NBank tổng cộng số tiền nợ gốc 16.442.993 đồng; (trong đó thẻ American E là 4.763.801 đồng; Thẻ Visa là 11.679.192 đồng).

Nhận thấy; NBank khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà H trả số tiền nợ gốc bà H còn nợ đối với 02 thẻ tín dụng nêu trên là có căn cứ và phù hợp pháp luật; Căn cứ Điều 280 Bộ luật dân sự, buộc bà H trả NBank số tiền nợ gốc Thẻ American E là 4.763.801 đồng và số tiền nợ gốc Thẻ Visa là 11.679.192 đồng.

- Đối với số tiền nợ lãi, phí:

Theo Điều 4 của hợp đồng thẻ tín dụng, ngân hàng và bà H đã thống nhất thỏa thuận về lãi và phí.

Nhận thấy: Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự; phù hợp với quy định tại Thông tư số 19/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng; Căn cứ Khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2017; chấp nhận yêu cầu của NBank về việc buộc bị đơn trả tiền lãi, phí tính đến ngày 05/8/2024 là nợ lãi, phí phạt là 42.625.015 đồng, gồm: Thẻ American E lãi là 1.717.863 đồng; Phí: 5.695.968 đồng; Thẻ Visa lãi là 6.313.106 đồng; Phí: 28.898.078 đồng; Buộc bà H tiếp tục phải trả khoản tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng thẻ tín dụng đã ký cho đến khi bà H tất toán toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì NBank có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác minh, xử lý tài sản của bà H để thu hồi nợ theo quy định.

[3]. Án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bà Nguyễn Thị Thu H không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng, không có ý kiến, quan điểm nên không có căn cứ để xem xét.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Điều 275, 280 Bộ luật Dân sự.
  • Căn cứ khoản 2 Điều 3; khoản 3 Điều 90; khoản 2 Điều 91; Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP N khởi kiện với bà Nguyễn Thị Thu H.
  2. Xác nhận bà Nguyễn Thị Thu H nợ Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày 05/8/2024 là 59.068.008 đồng (năm mươi chín triệu, không trăm sáu mươi tám nghìn, lẻ tám đồng), gồm: Nợ gốc 16.442.993 đồng; nợ lãi, phí phạt là 42.625.015 đồng, trong đó:

    Thẻ American E là 12.177.632 đồng, gồm nợ gốc 4.763.801 đồng, lãi là 1.717.863 và phí tín dụng là 5.695.968 đồng.

    Thẻ Visa là 46.890.376 đồng, gồm nợ gốc 11.679.192 đồng; lãi là 6.313.106 đồng, phí tín dụng 28.898.078 đồng.

    Buộc bà Nguyễn Thị Thu H trả Ngân hàng TMCP N tổng số tiền tính đến ngày 05/8/2024 là 59.068.008 đồng; Bà H tiếp tục phải chịu lãi và phí phát sinh theo thỏa thuận tại văn bản Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.953.400 đồng. Hoàn trả Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí đã nộp trực tuyến là 1.205.055 đồng (Theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 1095463 ngày 04/4/2024, Thông báo số 103 ngày 02/4/2024, mã thông báo S0XY7JKZB1).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận về việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Ngân hàng TMCP N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bà Nguyễn Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Đống Đa, Hà Nội;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/DS-ST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 178/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger