|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/7/2024
V/v: “Tranh chấp xác định cha cho con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Tâm.
Ông Ngô Kim Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 08/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/4/2024, về việc “Tranh chấp xác định cha cho con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QÐST-HNGĐ ngày 06/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: chị Phạm Thị N, sinh năm: 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở: tầng 5, số A ngách B, ngõ F, đường N, quận B, thành phố T, Đài Loan, Trung Quốc.
- Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của chị Phạm Thị N: bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968.
Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: anh HUANG CHIH- HSIN, sinh năm: 1977 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: tầng 5, số A, ngách B, ngõ F, đường N, quận B, thành phố T, Đài Loan.
-Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của anh HUANG CHIH- HSIN là ông Phạm Văn L, sinh năm: 1967
Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
* Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ: cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các bản khai tiếp theo (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ), nguyên đơn là chị Phạm Thị N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn L1 tự nguyện kết hôn vào năm 2014 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện tại UBND xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Năm 2016, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên chị sang Đài Loan sinh sống. Kể từ đó, vợ chồng sống ly thân. Giữa năm 2021, chị có quen anh HUANG CHIH- HSIN và phát sinh tình cảm. Sau đó, chị có khoảng thời gian chung sống với anh HUANG CHIH-HSIN. Đến ngày 10/3/2023 chị đã được giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L1 theo bản án số 48/2023/HNGĐ-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tuy nhiên, trong thời gian sống tại Đài Loan, chị có sinh 01 cháu trai với anh HUANG CHIH- HSIN tại Đài Loan chị dự kiến đặt tên khai sinh cho cháu là: HUANG HAO CHUN, giới tính: nam; thời gian mang thai 39 tuần; trọng lượng em bé khi sinh; 3385 gram; thời gian sinh 09 giờ 18 phút ngày 13/8/2022; loại thai: thai đơn; nơi sinh: Bệnh viện quận P, thành phố Đ, Đài Loan, Trung Quốc. Căn cứ thực tế chị xác định: con chị là cháu HUANG HAO CHUN không phải con chung giữa chị với anh Nguyễn Văn L1. Bởi lẽ, chị và anh L1 đã ly thân nhau từ năm 2016 thời điểm chị sang Đài Loan sinh sống, làm việc; con chị HUANG HAO CHUN sinh ngày 13/8/2022 là con trai giữa chị với anh HUANG CHIH- HSIN. Bởi lẽ, thời điểm chị sinh cháu bé phù hợp với khoảng thời gian chị và anh HUANG CHIH- HSIN có quan hệ sinh học. Đồng thời, xét nghiệm quan hệ huyết thống thể hiện DNA của cháu bé và anh HUANG CHIH-HSIN có kết quả trùng khớp. Cụ thể, tại Báo cáo quan hệ huyết thống DNA công ty cổ phần K1 kết luận: “Các mẫu vật gửi giám định của HUANG CHIH-HSIN và con trai của Phạm Thị N các loại DNA tương ứng đều không tương thích, do đó xác suất quan hệ huyết thống là 99,99999876%. Giá trị CPI= 80820908.1, giá trị PP = 0,9999999876".
Nay để đảm bảo quyền lợi cho cháu HUANG HAO CHUN chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang công nhận cháu HUANG HAO CHUN có quan hệ huyết thống với anh HUANG CHIH-HSIN và cháu HUANG HAO CHUN không phải là con chung trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Nguyễn Văn L1.
Hiện nay, chị đang lao động tại Đài Loan nên chị không thể về tham gia phiên họp kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con được. Vì vậy, chị đề nghị được vắng mặt trong phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con giữa chị và anh HUANG CHIH- HSIN.
Chị cũng ủy quyền cho mẹ chị là bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968, nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nộp đơn khởi kiện, nộp tạm ứng án phí, nhận bản án, trích lục và các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho chị và thông báo lại cho chị biết.
*Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo bị đơn là anh HUANG CHIH- HSIN trình bày (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ):
Anh và chị Phạm Thị N có quen nhau và có quan hệ với nhau từ giữa năm 2021, sau đó anh chị có thời gian chung sống với nhau. Ngày 13/8/2022, chị N có sinh 01 cháu trai tại Đài Loan, chị N dự kiến đặt tên khai sinh cho cháu là: HUANG HAO CHUN.
Căn cứ thực tế anh xác định: cháu trai sinh ngày 13/8/2022 là con trai giữa anh với chị Phạm Thị N. Bởi lẽ, thời điểm chị N sinh cháu bé phù hợp với khoảng thời gian anh và chị N có quan hệ sinh học. Đồng thời, xét nghiệm thể hiện DNA của cháu bé và anh là trùng khớp. Cụ thể, Báo cáo quan hệ huyết thống DNA công ty cổ phần K1 kết luận: “Các mẫu vật gửi giám định của HUANG CHIH- HSIN và con trai của Phạm Thị N các loại DNA tương ứng đều không tương thích, do đó xác suất quan hệ huyết thống là 99,99999876%. Giá trị CPI= 80820908.1, giá trị PP = 0,9999999876”. Nay anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang công nhận quan hệ huyết thống giữa anh và cháu HUANG HAO CHUN, đồng thời công nhận cháu HUANG HAO CHUN là con chung của anh với chị Phạm Thị N.
Do đặc thù công việc nên anh hạn chế trong việc đi lại, anh xin được vắng mặt trong tất cả các phiên họp và các phiên tòa xét xử của Tòa án. Đồng thời, mọi thông tin, văn bản tố tụng anh xin ủy quyền cho ông Phạm Văn L, sinh năm: 1967, có địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thay mặt thực hiện: nộp hồ sơ, giao nộp và tiếp nhận các văn bản tố tụng, nộp án phí, lệ phí trong quá trình giải quyết vụ việc.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L1 không có bản tự khai.
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh Nguyễn Văn L1 là bà Lý Thị S, sinh năm 1967, trú tại: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bà S thông báo cho anh L1 biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp xác định cha cho con giữa chị Phạm Thị N và anh HUANG CHIH-HSIN, anh L1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; yêu cầu anh L1 viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà S cung cấp địa chỉ cụ thể của anh L1 ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua làm việc bà S vẫn giữ nguyên quan điểm là anh L1 ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh L1 ở nước ngoài cho Tòa án, bà đã nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và bà đã thông báo cho anh L1 biết thì anh L1 có quan điểm là anh không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của anh L1 gửi về.
Tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N, bị đơn là anh HUANG CHIH- HSIN vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L1 vắng mặt không có lý do.
Thay mặt Hội đồng xét xử, thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị N, anh HUANG CHIH- HSIN; biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh L1 là bà Lý Thị S và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn chị Phạm Thị N; bị đơn anh HUANG CHIH- HSIN có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn L1 không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài. Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh L1; căn cứ vào công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh L1 là đúng.
Về nội dung vụ án: căn cứ Điều 88, khoản 1 Điều 89; Điều 91, Điều 101 Điều 102; Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a điểm c khoản 1 Điều 37; điểm t khoản 2 Điều 39; điểm a khoản 2 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N.
1. Xác định anh HUANG CHIH-HSIN, sinh ngày 05/12/ 1977; quốc tịch Đài Loan; số hộ chiếu: 363222807 do Bộ N1 (Trung Quốc) cấp ngày 28/6/2023 là cha đẻ của cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 (tên do chị Phạm Thị N, sinh năm 1991 đặt), có giấy chứng sinh số B20220813- 10221 -001 do Bệnh viện T, quận N, T ngày 13/8/2022.
2. Xác định anh Nguyễn Văn L1, sinh ngày 04/8/1986; số CCCD: [...] do Cục C về TTXH cấp; địa chỉ: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, không phải là cha đẻ cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 (tên do chị N đặt), có giấy chứng sinh số B20220813- 10221 -001 do Bệnh viện T, quận N, T ngày 13/8/2022.
Về án phí: chị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: chị Phạm Thị N là công dân Việt Nam, đăng ký thường trú tại thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang hiện đang cư trú tại Đài Loan. Chị Phạm Thị N có đơn khởi kiện về việc xác nhận cha cho con đối với anh HUANG CHIH- HSIN là người nước ngoài có quốc tịch Đài Loan, Trung Quốc và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn L1. Như vậy, Tòa án xác định đây là vụ án tranh chấp “Xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4, Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và do anh HUANG CHIH- HSIN là bị đơn có quốc tịch Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khỏan 3 Điều 35; điểm a điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa chị N, anh HUANG CHIH- HSIN có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị N, anh HUANG CHIH- HSIN và anh L1.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N thì thấy:
Chị N và anh HUANG CHIH-HSIN đều có lời khai xác định: chị Phạm Thị N kết hôn với anh Nguyễn Văn L1 năm 2014 và đến năm 2016 thì chị sang Đài Loan sinh sống, chị và anh L1 đã sống ly thân nhau từ năm 2016. Đến năm 2021 chị có chung sống với anh HUANG CHIH-HSIN và đã sinh ra cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022, thời điểm chị N sinh cháu HUANG HAO CHUN, chị N vẫn đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh L1. Đến ngày 10/3/2023 chị đã được giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn L1 theo bản án số 48/2023/HNGĐ-ST ngày 10/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Chị đã có kết quả xét nghiệm quan hệ huyết thống DNA do công ty cổ phần K1 kết luận: cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 là con của anh HUANG CHIH-HSIN.
[3] Hội đồng xét xử thấy: căn cứ vào sự thừa nhận của chị Phạm Thị N, anh H CHIH-HSIN đều xác định cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 (tên do chị Phạm Thị N, sinh năm 1991 đặt), có giấy chứng sinh số B20220813- 10221 - 001 do Bệnh viện T, quận N, T ngày 13/8/2022 là con đẻ của anh HUANG CHIH- HSIN.
Căn cứ vào kết quả xét nghiệm DNA của Công ty cổ phần K1. Việc giám định DNA được thực hiện tại Công ty cổ phần K1 kết quả giám định kết luận cháu HUANG HAO CHUN là con anh HUANG CHIH-HSIN. Hội đồng xét xử thấy việc giám định DNA tại trung tâm phân tích DNA là đảm bảo do đây là doanh nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoạt động và được xác nhận của Văn phòng K tại Đ.
Từ những đánh giá trên, Hội đồng xét xử nhận thấy đủ cơ sở để xác định cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 là con đẻ của anh HUANG CHIH-HSIN, không phải là con đẻ của anh Nguyễn Văn L1. Vì vậy căn cứ quy định tại các Điều 88; khoản 1 Điều 89; Điều 91; Điều 101; Điều 102; Điều 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, yêu cầu xác định cha cho con của chị Phạm Thị N được chấp nhận.
Căn cứ bản án có hiệu lực pháp luật các bên có liên quan có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại các vấn đề về hộ tịch của cháu HUANG HAO CHUN.
[4] Về án phí: theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì các đương sự được miễn nộp tiền án phí. Do vậy các đương sự trong vụ án không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 88, khoản 1 Điều 89; Điều 91, Điều 101 Điều 102; Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a điểm c khoản 1 Điều 37; điểm t khoản 2 Điều 39; điểm a khoản 2 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Xác định cha cho con” của chị Phạm Thị N.
2. Xác định anh HUANG CHIH-HSIN, sinh ngày 05/12/1977; quốc tịch Đài Loan; số hộ chiếu: 363222807 do Bộ N1 (Trung Quốc) cấp ngày 28/6/2023 là cha đẻ của cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 (tên do chị N đặt), có giấy chứng sinh số B20220813- 10221 -001 do Bệnh viện T, quận N, T ngày 13/8/2022.
3. Xác định anh Nguyễn Văn L1, sinh ngày 04/8/1986; số CCCD: [...] do Cục C về TTXH cấp; địa chỉ: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, không phải là cha cháu HUANG HAO CHUN, sinh ngày 13/8/2022 (tên do chị N đặt), có giấy chứng sinh số 142001 do Bệnh viện T, quận N, thành phố Đ cấp ngày 13/8/2022.
4 .Về án phí sơ thẩm: chị Phạm Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: chị Phạm Thị N, anh HUANG CHIH-HSIN và anh Nguyễn Văn L1 hiện đang cư trú tại nước ngoài vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày nhận bản án được tống đạt hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Hà |
Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: * Nguyên đơn: chị Phạm Thị N, sinh năm: 1991 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt). Nơi thường trú: thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: tầng 5, số A ngách B, ngõ F, đường N, quận B, thành phố T, Đài Loan, Trung Quốc. - Người đại diện theo ủy quyền nhận các văn bản tố tụng của chị Phạm Thị N: bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1968. Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. * Bị đơn: anh HUANG CHIH- HSIN, sinh năm: 1977 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt) Nơi cư trú: tầng 5, số A, ngách B, ngõ F, đường N, quận B, thành phố T, Đài Loan.
