TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-8-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Quí; ông Trần Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tấn Đức T, sinh năm 1991 (có mặt)
- Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0918.555.xxx
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Bích T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Anh và chị T1 do tự tìm hiểu và tự nguyện chung sống với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Sau thời gian chung sống và sinh được ba đứa con thì bất đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, khi con nhỏ được khoảng 1 tuổi thì chị T1 mang con bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và không liên lạc với anh nữa dù anh đã nhiều lần tìm hiểu lý do và mong muốn hàn gắn nhưng đều không được. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu ly hôn với chị T1.
Về con chung: Có 3 đứa con chung tên: Nguyễn Tấn T2, sinh ngày 12/01/2013; Nguyễn Tấn H, sinh ngày 25/3/2015 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 20/6/2020. Hai cháu lớn hiện đang sống với anh T, còn cháu nhỏ đang sống với chị T1. Đối với hai cháu lớn thì tùy theo nguyện vọng của con, nếu sống với anh thì anh không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng, còn nếu sống với chị T1 thì anh cũng không cấp dưỡng nuôi con, còn cháu nhỏ thì hiện đang sống với chị T1 nên anh đồng ý để chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung: Không có
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự nhưng bị đơn tiếp tục vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn; yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Tấn T2 và Nguyễn Tấn H, không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng; đồng ý giao cháu Nguyễn Tấn P cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; cho anh T ly hôn với chị T1; giao cháu Nguyễn Tấn T2 và Nguyễn Tấn H cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Tấn P cho chị T1 tiếp tục nuôi dưỡng; hai bên không cấp dưỡng qua lại; tài sản chung và nợ chung: không xem xét. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Tấn Đức T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Bích T1, yêu cầu giải quyết về con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Chị Nguyễn Thị Bích T1 có hộ khẩu thường trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3] Xét việc tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị T1 xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 17/5/2012 tại UBND xã N, huyện C, tỉnh An Giang theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Theo anh T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không phù hợp, vợ chồng không có sự chia sẽ, quan tâm nhau, khi con nhỏ được khoảng 1 tuổi thì chị T1 bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và cắt đứt liên lạc với anh đến nay dù anh đã nhiều lần tìm hiểu lý do và mong muốn hàn gắn nhưng không thành, nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu ly hôn chị T1.
[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở các phiên hòa giải để hai bên có cơ hội hàn gắn nhưng chị T1 đều vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh T cho thấy mâu thuẫn của cả hai đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn, cho anh T được ly hôn chị T1.
[4] Về con chung: Có 3 đứa con chung tên: Nguyễn Tấn T2, sinh ngày 12/01/2013; Nguyễn Tấn H, sinh ngày 25/3/2015 và Nguyễn Tấn P, sinh ngày 20/6/2020. Cháu T2 và H hiện đang sống với anh T còn cháu P đang sống với chị T1. Quá trình giải quyết vụ án, cháu T2 và H có nguyện vọng sống với anh T nếu cha mẹ ly hôn, anh T cũng đồng ý nuôi con nên để không làm ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T2, cháu H cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu P hiện đang sống chung với chị T1, quá trình giải quyết vụ án, chị T1 không có ý kiến gì, anh T cũng đồng ý giao cháu P cho chị T1 nuôi dưỡng nên để ổn định cuộc sống cho cháu P, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu P cho chị T1 tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; về cấp dưỡng: anh T và chị T1 đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định, bị đơn không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Nguyễn Tấn Đức T.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Tấn Đức T được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích T1.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tấn T2, sinh ngày 12/01/2013; Nguyễn Tấn H, sinh ngày 25/3/2015 cho anh Nguyễn Tấn Đ T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Nguyễn Tấn P, sinh ngày 20/6/2020 cho chị Nguyễn Thị Bích T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; hai bên không cấp dưỡng qua lại.
Anh Nguyễn Tấn Đức T, chị Nguyễn Thị Bích T1 và các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của nhau và không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Anh Nguyễn Tấn Đức T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013897 ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, anh T không phải nộp thêm. Chị Nguyễn Thị Bích T1 không phải chịu án phí. Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Tấn Đức T Ly Hôn Chị Nguyễn Thị Bích T1
