|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2024/DS-PT Ngày 01 tháng 8 năm 2024 V/v: “Tranh chấp quyền sở hữu, xác định Quyền sở hữu, chia tài sản, hợp đồng vay”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng và ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 110/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024, tranh chấp “Quyền sở hữu, xác định Quyền sở hữu, chia tài sản, hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/DS-ST ngày 18 tháng 3 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Tri Tôn bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 153/2024/QĐXX-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Đồng nguyên đơn: Chị Huỳnh Mai T, sinh năm: 1988 và chị Huỳnh Thị Mai L, sinh năm: 1991; cùng địa chỉ cư trú: Số C, tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho chị Huỳnh Mai T, có chị Huỳnh Thị Mai L (đồng nguyên đơn trong vụ án), theo Văn bản ủy quyền ngày 20/11/2023 của Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị T1.
B về quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Hoàng P - Văn phòng luật sư Hồ Hoàng P thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Số A, T, tổ A, khóm B, phường M, Tp L, tỉnh An Giang (có mặt)
2
2. Đồng bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1970 và bà Thị Mai, sinh năm: 1970; cùng địa chỉ cư trú: Số C, tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang. ( bà M có mặt)
Đại diện theo ủy quyền cho ông Huỳnh Văn Đ, có bà Đặng Thị M1 (đồng bị đơn trong vụ án), theo Văn bản ủy quyền ngày 20/8/2014 của Văn phòng C.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Huỳnh Trung N, sinh ngày 02/01/2000; địa chỉ cư trú: Số C, tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho anh Huỳnh Trung N là chị Huỳnh Thị Mai L (đồng nguyên đơn trong vụ án), theo Văn bản ủy quyền ngày 20/11/2023 của Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị T1.
3.2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1947; địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T2 là bà Đặng Thị M1 (đồng bị đơn trong vụ án), theo Văn bản ủy quyền ngày 20/11/2023 của Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị T1. (có mặt)
3.3. Bà Thái Bảo T3, sinh năm: 1964; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp V, xã L, huyện T, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
3.34. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1966; địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1 là ông Nguyễn Phước H, sinh năm: 1987; địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã B, huyện C, An Giang, theo Văn bản ủy quyền ngày 20/11/2020 của Văn phòng công chứng Nguyễn Thúc T4. (có mặt)
3.5. Ngân hàng TMCP X; địa chỉ: D, L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ hiện nay: Tầng H, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G, Lê Thánh T5, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hà P1 – Chủ tịch Hội đồng quản trị
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đoàn Văn A - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh A1; địa chỉ: D, H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Ông Đoàn Văn A được ủy quyền lại cho Nguyễn Quốc N1, sinh năm 1976, Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ: Số H, P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt).
3.6. Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn; địa chỉ: Số B, đường T, khóm D, thị trấn T, huyện T. (vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Hồng H1 Chấp hành viên, theo Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2020 của Chi cục trưởng Chi Cục Thi hành án huyện Tri Tôn.
3
Người kháng cáo: Huỳnh Mai T, Huỳnh Thị Mai L; Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1; Huỳnh Trung N là nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/3/2014 với các tài liệu kèm theo và quá trình tổ tụng tại Tòa, nguyên đơn chị Huỳnh Mai T và chị Huỳnh Thị Mai L đại diện theo ủy quyền cho chị T trình bày:
Nguyên vào ngày 24/5/2003, bà ngoại T tên Nguyễn Thị T2 có cho cha mẹ và chị em của T gồm: Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, T, Huỳnh Thị Mai L và Huỳnh Trung N phần đất thổ cư có diện tích 592,9m2, đất tọa lạc khóm A, thị trấn B, huyện T. Khi tặng cho bà có làm giấy tay.
Năm 2004 cha T (ông Đ) đại diện kê khai và ngày 28/6/2004 được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt QSDĐ) nói trên theo số 05016/mL thửa 37, tờ bản đồ 30 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ.
Năm 2013 cha mẹ T (Đơn – M1) làm ăn lỗ lã, nợ tiền của ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Thái Bảo T3, bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử theo 02 Bản án dân sự. Cụ thể: 1. Bản án số: 20/2013/DS-ST ngày 26/3/2013 buộc cha mẹ T trả cho bà Thái Bảo T3 210.570.950 đồng; 2. Bản án số: 08/2013/DS-ST ngày 24/01/2013 buộc cha mẹ T trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 764.384.000 đồng;
Ngày 07/01/2014 Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 11/QĐ-CCTHA, theo đó kê biên tài sản gồm: 1. QSDĐ diện tích 592,9m2 tờ bản đồ 30, thửa 37 Giấy chứng nhận QSDĐ vào sổ số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ; 2. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở thuộc Giấy chứng nhận quyền sở hữu số 5007040151, hồ sơ gốc số 51/01 do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, để nhằm thi hành 02 bản án nói trên.
Xét, cha mẹ T nợ tiền của ông Đ1, bà T3 như thế nào là T hoàn toàn không biết. Trong khi tài sản trên là tài sản chung của 05 người, trong đó có 1/5 diện tích đất 592,9m²/5 = 118,58m² là của T.
Bà T yêu cầu Tòa án xác định quyền sử dụng 1/5 diện tích 592.9m² = 118,58m2 là của riêng T để cơ quan thi hành án không được thi hành phần đất này thanh toán nợ cho ông Đ1, bà T3.
* Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mai L trình bày:
Thứ nhất: Đối với phần đất thổ cư diện tích 592,9m² chị hoàn toàn thống nhất với trình bày của chị T, chị xác định trong 592,9m² đất này là có 1/5 = 118,58m² là của chị.
Thứ hai: Đối với căn nhà diện tích sử dụng 65,1m², kết cấu khung bê tông, vách tường, mái tol, lót gạch tọa lạc tại khóm A, thị trấn B xây cất trên đất 592,9m²
4
mà Chi Cục Thi hành án kê biên là của cha mẹ chị đã thế chấp cho Ngân hàng, nhưng căn nhà này đã hư hỏng, nên vào năm 2011 chị đã xuất tiền cá nhân của mình xây dựng lại căn nhà mới như hiện nay. Nhà có kết cấu cấp 4, kích thước ngang khoảng 13m x dài khoảng 24m. Cơ sở chứng minh là chị có riêng phần đất nông nghiệp diện tích 27.459m², theo Giấy chứng QSD đất số AL 718113 thửa 273 tờ bản đồ số 07 do UBND huyện T cấp ngày 27/3/2009 mang tên Huỳnh Thị Mai L, và vào ngày 05/10/2011 chị sang nhượng cho anh Trần Văn K nhà ở thị trấn A, huyện C giá 741.393.000 đồng, chị sử dụng tiền đó để xây nhà hết 615.000.000 đồng.
Cha mẹ nợ tiền của ông Đ1, bà T3 như thế nào là chị L hoàn toàn không biết. Trong khi phần đất là tài sản chung của 05 người, trong đó có 1/5 diện tích đất 592,9m²/5 = 118,58m² là của chị và riêng căn nhà là của chị, chị yêu cầu Tòa án xác định để cơ quan thi hành án không được thi hành phần đất với căn nhà này thanh toán nợ cho ông Đ1, bà T3.
* Bị đơn bà Đặng Thị M1 trình bày:
Đúng là phần đất thổ cư có diện tích 592.9m2 tọa lạc tại khóm A, thị trấn B là của mẹ ruột bà tên Nguyễn Thị T2 cho vợ chồng bà và 03 con chung (T, L, N) vào ngày 24/5/2003. Năm 2004 chồng bà (ông Đ) đại diện kê khai và ngày 28/6/2004, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nói trên cho hộ Huỳnh Văn Đ, theo số 05016/mL. Ngoài ra vào ngày 05/10/2011 L có sang nhượng phần đất nông nghiệp riêng của L rồi L sử dụng tiền xây nhà như hiện nay có kết cấu khung bê tông, vách tường, mái tol, lót gạch trên phần đất 592.9m².
Bà M1 cũng thừa nhận có cùng ông Đ nợ tiền của Đ1, bà T3 và bị Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử bằng 02 Bản án dân sự hiện có hiệu lực pháp luật như đã nêu trên, buộc vợ chồng bà trả cho bà Thái Bảo T3 210.570.950 đồng trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 764.384.000 đồng, nhưng vào ngày 07/01/2014 Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 11/QĐ-CCTHA, kê biên tài sản gồm: QSDĐ diện tích 592,9m² và căn nhà ở trên đất theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 để thi hành án là không đúng.
Nay bà M1 chỉ đồng ý xác định phần đất là của chung 5 người, còn căn nhà là của L, phần còn lại là của bà 592.9m²/5 = 118,58m², bà đồng ý thi hành án.
Bị đơn ông Huỳnh Văn Đ, do bà Đặng Thị M1 - đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với phần vừa trình bày của bà vừa nêu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Huỳnh Trung N, do chị Huỳnh Thị Mai L đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với trình bày của chị Huỳnh Mai T. Cụ thể trong diện tích 592,9m2 của Giấy chứng nhận QSDĐ số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ là có 1/5 của N, nên N yêu cầu Tòa án xác định QSD diện tích 118,58m2 trong 592.9m² là của riêng N và cơ quan thi hành án không được thi hành phần đất này để thanh toán nợ cho ông Đ1, bà T3.
5
2. Bà Nguyễn Thị T2, do bà Đặng Thị M1 đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà T2 được cha mẹ chia cho phần đất thổ cư, diện tích bao nhiêu thì bà không nhớ, nhưng năm 2003 bà T2 có tặng cho lại cho con ruột (M1) cùng chồng con của M1 là Đơn, T, L, N diện tích 592.9m². Việc tặng cho có làm giấy tay. Năm 2004 bà T2 có tách thửa đất này và cấp cho hộ Huỳnh Văn Đ là đúng với nguyện vọng của bà T2, nên nay các bên tranh chấp nhau như thế nào thì bà T2 không có ý kiến cũng không có yêu cầu.
3. Bà Thái Bảo T3 trình bày: Năm 2008 bà có bán vật tư nông nghiệp cho vợ chồng ông Đ – bà M1, vợ vợ chồng bà M1 còn nợ 210.570.950 đồng không trả, nên bà khởi kiện và được Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử bằng Bản án số 20/2013/DS-ST ngày 26/3/2013. Bà yêu cầu và được Cơ quan thi hành án dân sự huyện T ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 11/QĐ-CCTHA, kê biên tài sản gồm: 1. QSDĐ diện tích 592,9m2 Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ; 2. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ – Đặng Thị M1, để nhằm thi hành cho bà.
Nay bà T3 yêu cầu giữ nguyên quyết định để tiến hành định giá phát mãi thi hành án. Riêng việc các con ông Đ– bà M1, gồm: L, T, N và bà M1, ông Đ yêu cầu xác định tài sản và chia phần là bà không đồng ý.
4. Ông Nguyễn Văn Đ1, do anh Nguyễn Phước H – đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Đ1 cũng giống như bà T3 là năm 2010 ông Đ1 có bán vật tư nông nghiệp cho vợ chồng ông Đ, bà M1, và ông bà còn nợ ông Đ1 623.790.000 đồng không trả, nên ông Đ1 khởi kiện và được Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử bằng Bản án số 08/2013/DS-ST ngày 24/01/2013. Ông Đ1 yêu cầu và được Cơ quan thi hành án dân sự huyện T ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản như bà T3 trình bày.
Nay ông Đ1 cũng yêu cầu giữ nguyên quyết định để tiến hành định giá phát mãi thi hành án. Riêng việc các con ông Đ, bà M1, gồm: L, T, N và bà M1, ông Đ yêu cầu xác định tài sản và chia phần là ông Đ1 không đồng ý.
5. Ngân hàng TMCP X - do ông Bùi Văn Đ2, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP X –Chi nhánh A1 – đại diện theo pháp luật trình bày: Ngày 29/6/2010, ông Huỳnh Văn Đ– bà Đặng Thị M1 có ký hợp đồng tín dụng số: 1502-LAV-2010.00714 vay của Ngân hàng TMCP X – Chi nhánh thành phố C 500.000.000 đồng.
Đảm bảo cho hợp đồng tín dụng thì cùng ngày 29/6/2010, ông Đ – bà M1 có ký hợp đồng thế chấp số 128/EIABG-TD/TCTS/2010.CĐ, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 592,9m² theo Giấy chứng nhận số 05016 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ cùng tài sản là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1. Mục đích vay: Sửa chữa nhà và mua đồ dùng gia đình; thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay 13,5% tháng, lãi quá hạn x 150%.
6
Quá trình thực hiện đến ngày 06/3/2014 ông Đ, bà M1 trả vốn 251.000.000 đồng, lãi 241.652.654 đồng, còn lại vốn 249.000.000 đồng và lãi. Tính đến nay tổng số nợ là 925.163.272 đồng. Trong đó, vốn: 249.000.000 đồng, lãi 676. 163, 272 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông Đ, bà M1 phải thanh toán ngay số nợ trên, nếu không thì định giá tài sản thế chấp trả cho Ngân hàng. Riêng đối với yêu cầu của các ông bà: T, L, N, Đ1, T6 thì Ngân hàng không đồng ý.
6. Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn do bà Nguyễn Thị Hồng H1 đại diện theo theo ủy quyền trình bày.
Tại Văn bản số 384/CV-CCTHADS ngày 19/10/2020 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Tri Tôn: Thừa nhận vào ngày 07/01/2014 có ban hành quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản số 11/QĐ-CCTHA, đối với tài sản gồm: 1. QSDĐ diện tích 592,9m² theo Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ; 2. Tài sản gắn liền với đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, để nhằm thi hành 02 Bản án: 1. Bản án số: 20/2013/DS-ST ngày 26/3/2013 buộc ông Đ bà M1 trả cho bà Thái Bảo T3 210.570.950 đồng; 2. Bản án số: 08/2013/DS-ST ngày 24/01/2013 buộc ông Đ, bà M1 trả cho ông Nguyễn Văn Đ1 764.384.000 đồng;
Nay các anh chị: Trinh, L, N tranh chấp yêu cầu xác định tài sản cũng như Ngân hàng TMCP X yêu cầu duy trì tài sản thế chấp để thanh toán thì Thi hành án Tri Tôn không có quyền quyết định mà chờ kết quả xét xử của Tòa án. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan THA thi hành án theo quy định.
Giai đoạn hòa giải, các bên thống nhất: Ông Đ, bà M1 có nợ bà T3, ông Đ1, có thế chấp QSDĐ để vay nợ Ngân hàng TMCP X và Cơ quan thi hành án kê biên tài sản gồm QSDĐ diện tích 592,9m² theo Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ và tài sản gắn liền với đất là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, để thi hành, nhưng không thống nhất về quyền sở hữu tài sản.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 18/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Tri Tôn đã xử:
Căn cứ vào Điều 136 Luật Đất đai 2003; các Điều 288, 463, 466, 688, 320, 323. Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các khoản 1, 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của:
1. Chị Huỳnh Mai T về yêu cầu xác định diện tích 118,58m² trong diện tích 592,9m² của Giấy chứng nhận QSDĐ số 05015 do UBND huyện T cấp ngày
7
28/6/2004, theo bản đồ 30, thửa 37 Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ là của chị Huỳnh Mai T.
2. Chị Huỳnh Thị Mai L về yêu cầu xác định diện tích 118,58m² trong diện tích 592,9m² của Giấy chứng nhận QSDĐ số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004, theo bản đồ 30, thửa 37 Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ và căn nhà có kết cấu cấp 4, gắn liền với đất có diện tích 303,19m² cùng mái che có diện tích 65m² là của chị Huỳnh Thị Mai L.
3. Anh Huỳnh Trung N về yêu cầu xác định diện tích 118,58m² trong diện tích 592,9m² của Giấy chứng nhận QSDĐ số 05015 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004, theo bản đồ 30, thửa 37 Giấy chứng nhận QSD đất số 05015 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ là của anh Huỳnh Trung N.
4. Buộc ông Huỳnh Văn Đ, bà Đặng Thị M1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP X 925.163.272 đồng, trong đó bao gồm: Vốn gốc 249.000.000 đồng, lãi trong hạn 73.489.582 đồng, lãi quá hạn 602.673.690 đồng.
Kể từ ngày 14/3/2024 ông Đ, bà M1 còn phải chịu lãi, theo lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng số: 1502-LAV-2010.00714 giữa ông Huỳnh Văn Đ – bà Đặng Thị M1 với Ngân hàng TMCP X ký kết ngày 29/6/2010.
Trong trường hợp ông Huỳnh Văn Đ, bà Đặng Thị M1 không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-2010.00714 ngày 29/6/2010 thì Ngân hàng TMCP X có yêu cầu Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật là quyền sử dụng đất diện tích 592,9m² theo thửa số 37, tờ bản đồ 30, Giấy chứng nhận số 05016 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ cùng tài sản là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, để thu hồi nợ.
5. Về chi phí tố tụng:
- Chị Huỳnh Mai T và chị Huỳnh Thị Mai L cùng chịu 951.149 đồng tiền hợp đồng đo đạc theo hóa đơn số 0036399 ngày 08/9/2014 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Chi nhánh T7.
- Buộc chị Huỳnh Mai T và chị Huỳnh Thị Mai L có nghĩa vụ liên đới thanh toán lại cho anh Nguyễn Phước H người đại diện theo ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1 tổng cộng 6.000.000 đồng, bao gồm: 5.300.000 đồng tiền chi phí định giá của Công ty cổ phần T8 và 700.000 đồng chi phí xem xét thẩm định, theo biên bản quyết toán ngày 28/11/2023 của Tòa án.
6. Về án phí:
- Chị Huỳnh Mai T phải chịu 14.253.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Huỳnh Thị Mai L phải chịu 14.553.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong đó có 14.253.000 đồng án phí yêu cầu chia 118,58m² đất và 300.000 đồng đối với
8
yêu cầu xác định quyền sở hữu căn nhà, được khấu trừ vào 7.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu số 06698 ngày 08/4/2014 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn; chị L còn phải nộp thêm 7.053.000 đồng.
- Anh Huỳnh Trung N phải chịu 14.253.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào 7.126.500 đồng tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu số 0012195 ngày 05/01/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn; anh N còn phải nộp thêm 7.126.500 đồng.
- Ông Huỳnh Văn Đ, bà Đặng Thị M1 phải cùng chịu 39.754.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm,
- Hoàn trả lại cho chị Huỳnh Mai T và chị Huỳnh Thị Mai L 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 06699 ngày 08/4/2014 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
- Hòan trả lại cho Ngân hàng TMCP X 6.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu số 06719 ngày 23/4/2014 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 27/3/2024, nguyên đơn Huỳnh Mai T; bị đơn Huỳnh Văn Đ; Đặng Thị M1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Mai L, Huỳnh Trung N, kháng cáo yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn phát biểu: Diện tích đất này do bà Nguyễn Thị T2 cho 5 thành viên trong gia đình của bà M1, việc tặng cho này tự nguyện, còn việc ông Đ đại diện gia đình đi kê khai do không hiểu pháp luật nên mới kê là của cha mẹ cho con; tuy nhiên UBND huyện T đã cấp cho hộ ông Huỳnh Văn Đ, do đó, việc xác định tài sản chung của hộ là có cơ sở; đối với tài sản căn nhà, chị L chứng minh được do nguồn tiền chị L có được bán đất nông nghiệp để xây dựng căn nhà, đề nghị HĐXX xem xét; việc Ngân hàng cho thế chấp quyền sử dụng đất chưa có ý kiến của các thành viên của hộ là chưa đúng pháp luật, việc nguyên đơn yêu cầu chia tài sản nhận quyền sử dụng đất bằng hiện vật để làm kỷ niệm của bà N2 để lại; con căn nhà do nguồn tiền của chị L xây dựng, đề nghị HĐXX có xem xét.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Đ1 ý kiến: Không đồng ý theo nội dung kháng cáo của các đương sự, đề giữ y án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi của ông Đ1 trong việc thi hành án.
Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP X ý kiến: Không đồng ý theo nội dung kháng cáo của các đương sự, đề nghị giữ y án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng trong việc thế chấp tài sản để thi hành án.
9
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, xét thấy cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người liên quan là có căn cứ; tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự kháng cáo không cung cấp chứng cứ mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các đương sự; giữ y án sơ thẩm. Tuy nhiên, vụ án được thụ lý trước ngày 01/01/2017, mà cấp sơ thẩm tính tiền án phí theo Nghị quyết 326 là không đúng; mà phải áp dụng Pháp lệnh 10 ngày 27/2/2009 để tính mới đúng pháp luật, nhưng khi tính lại vẫn không thay đổi, cần nêu lên để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người liên quan nộp đơn kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người liên quan thì thấy;
[2.1] Đối với quyền sử dụng đất diện tích 592,9m². Nguồn gốc đất theo bà T2 khai là của ông bà để lại và bà sử dụng đến năm 2003 thì tặng cho lại con ruột (M1) cùng chồng và con của M1 là Đơn, T, L, N. Việc tặng cho đất, bà T2 có làm giấy tay ngày 24/5/2003 và bà T2 thừa nhận tại biên bản lời khai ngày 21/4/2015. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị L đồng thời đại diện theo ủy quyền cho chị T, anh N và bà M1 đại diện theo ủy quyền cho ông Đ, bà T2 xác định: Phần đất trên thực tế ông Đ, bà M1 sử dụng từ năm 1987 chứ không phải năm 2003; tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Văn Đơn 1 ngày 10/11/2001, thì ông Đ khai: “đất này cha mẹ sử dụng ổn định đến năm 2001 ủy quyền lại cho con” phù hợp với Công văn số 4090/CNTT-ĐK ngày 07/4/2023 của Văn phòng Đ3 Chi nhánh T7 là cơ quan quản lý hồ sơ cấp chứng nhận QSD đất cho ông Huỳnh Văn Đ mà không phải cho cùng các cháu: Huỳnh Mai T, Huỳnh Thị Mai L và Huỳnh Trung N như bà T2 trình bày.
Bà T2 cho đất là cho trước khi bà M1 sinh anh N, chị L, chị T và chỉ cho con chứ không cho bao gồm các cháu: N, T, L. Việc sau này bà T2 khai cho vào năm 2003, có làm giấy tay cho luôn các cháu thì Hội đồng xét xử xét thấy không khách quan, chỉ nhằm hợp thức hóa nội dung tranh chấp, chứ không có giá trị về mặt pháp lý không có cơ sở chấp nhận.
[2.2]. Đối với căn nhà trên đất: Tại Mục 1.2 Điều 1 hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-2010.00714 ngày 29/6/2010 giữa Ngân hàng TMCP X với ông Đ, bà M1 thì mục đích vay tiền ông Đ, bà M1 sử dụng sửa chữa nhà và mua đồ dùng cá nhân. Thực tế sau khi vay vào năm 2010 thì năm 2011 ông Đ, bà M1 có đập phá nhà cũ diện tích
10
65m² và cất mới lại nhà như hiện nay có diện tích 303,19m² cùng mái che có diện tích 65m². Điều đó chứng tỏ Ngân hàng cho ông Đ, bà M1 vay là đúng mục đích.
Bà M1 cho rằng số tiền vợ chồng bà vay Ngân hàng là bà không sử dụng vào việc sửa chữa cất mới căn nhà, mà bà M1 sử dụng tiền đó để trả nợ bên ngoài, nhưng có trả cho ai hay không thì bà M1 không có cơ sở chứng minh.
Đối với chị L khai rằng số tiền cất nhà trên diện tích 303,19m² cùng mái che có diện tích 65m² hiện tại là của chị M1, về việc này Hội đồng xét xử xét thấy: chị L có phần đất lúa diện tích 27.459m² thuộc thửa 273, tờ bản đồ 7, theo chứng nhận QSD đất do UBND huyện T cấp ngày 27/8/2005 và chị L có Tờ xác nhận của bà Dương Tuyết P2 bán vật liệu xây dựng cho chị L, nhưng việc chị L xuất tiền sửa chữa, cất mới thì không thông qua Ngân hàng cũng không xin phép cơ quan có thẩm quyền.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 348 Bộ luật Dân sự 2005 cũng như khoản 7 Điều 320 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ của bên thế chấp có quy định như sau: “Thông báo cho bên nhận thế chấp về các quyền của người thứ ba đối với tài sản thế chấp, nếu có;...”
Đối chiếu với quy định trên thì trường hợp chị L xuất tiền cá nhân sửa chữa, cất mới lại nhà thì thông báo cho Ngân hàng biết về các quyền và nghĩa của chị đối với tài sản trên... nhưng ông Đ, bà M1 không thực hiện nghĩa vụ đó, nên theo quy định tại khoản 5 Điều 351 Bộ luật Dân sự 2005 và khoản 5 Điều 323 Bộ luật Dân sự 2015 về quyền của bên nhận thế chấp là: “Yêu cầu bên thế chấp hoặc người thứ ba giữ tài sản thế chấp giao tài sản đó cho mình để xử lý khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Do đó, yêu cầu xác định căn nhà hiện tại cất trên đất là của riêng chị L là không có cơ sở chấp nhận, còn nếu chị L có xuất tiền sửa chữa cất mới lại nhà thì đó là quan hệ riêng giữa chị L với ông Đ, bà M1, chị L có thể khởi kiện thành vụ kiện khác.
[3]. Về hợp đồng tín dụng số 1502-LAV-2010.00714: Ngày 29/6/2010, ông Đ, bà M1 có ký hợp đồng tín dụng số: 1502-LAV-2010.00714 vay của Ngân hàng TMCP X Chi nhánh thành phố C 500.000.000 đồng. Quá trình thực hiện đến ngày 06/3/2014 ông Đ, bà M1 trả vốn 251.000.000 đồng, lãi 241.652.654 đồng, còn lại vốn 249.000.000 đồng và lãi đến nay. Tính đến nay (13/3/2024), tổng số nợ là 925.163.272 đồng. Trong đó, vốn: 249.000.000 đồng, lãi 676.163.272 đồng, theo bảng chiết tính tiền lãi do đại diện Ngân hàng giao nộp tại phiên tòa, được bà M1 thừa nhận, nên ông Đ, bà M1 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng. Bà M1 có yêu cầu giảm tiền lãi, nhưng đại diện Ngân hàng không đồng ý, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[3.1]. Về tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 592,9m² theo Giấy chứng nhận số 05016 do UBND Tri Tôn cấp ngày 28/6/2004 mang tên hộ Huỳnh Văn Đ cùng tài sản là nhà ở theo Giấy chứng nhận sở hữu số 5007040151, do UBND huyện T cấp ngày 02/8/2004 mang tên Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1.
11
Căn cứ Điều 107 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình”; việc vay tiền của ông Đ, bà M1 mục đích vay để xây dựng, sửa chữa nhà. Do đó, việc Ngân hàng ký hợp đồng thế chấp số: 128/EIABG-TD/TCTS/2010.CĐ ngày 29/6/2010 với ông Đ, bà M1 là phù hợp pháp luật.
[3.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không cung cấp chứng cứ gì mới, làm phát sinh sự kiện pháp lý mới, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn, yêu cầu độc lập của anh Huỳnh Trung Nghĩa 11 có căn cứ.
Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm chung về việc tính tiền án phí dân sự sơ thẩm mà Viện kiểm sát nêu lên.
Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo, nên các đương sự có kháng cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 điều 148; điều 296 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn Huỳnh Mai T, Huỳnh Thị Mai L, bị đơn Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Trung N.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số:10/2024/DSST ngày 18/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Huỳnh Mai T, Huỳnh Thị Mai L, Huỳnh Văn Đ, Đặng Thị M1, Huỳnh Trung N mỗi người phải chịu 300.000đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012374 (của T), biên lai số 0012375 (của L), biên lai số 0012376 (của N), biên lai số 0012377 (của Đơn), biên lai số 0012379 (của M1) các biên lai cùng ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
12
sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Nguyễn Văn Sơn |
Bản án số 178/2024/DS-PT ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sở hữu, xác định quyền sở hữu, chia tài sản, hợp đồng vay
- Số bản án: 178/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sở hữu, xác định Quyền sở hữu, chia tài sản, hợp đồng vay
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Tr+ L kiện ông Đ yêu cầu xác định nhà và đất là tài sản của các nguyên đơn
