|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 178/2025/HSST Ngày: 27 tháng 10 năm 2025. Trộm cắp tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đỗ Ngọc Thùy. |
| Các hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Minh Tuấn |
| Bà Hà Thị Lan | |
| - Thư ký phiên tòa: | Ông Đoàn Thanh Hưng – Thư ký viên. |
| - Đại diện VKSND khu vực 4 – Hà nội tham gia phiên tòa: | |
| Ông Trần Văn Nghiêm – Kiểm sát viên. |
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại Toà án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 148/2025/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2025/QĐXX-HSST ngày 10 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Trần Lực; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/3/2004 Tại: Hà Nội; Nơi thường trú: Tổ A, phường N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Trần L (Đã chết) và bà Hoàng Thị H, sinh năm: 1982; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Bản án số 231 ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội (cũ) xử phạt Trần L1 mức án 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng. Chưa chấp hành xong hình phạt, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đầu thú ngày 14/6/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.
2. Nguyễn Hoài T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/3/2007, tại: Hải Phòng; Nơi thường trú: Số A đường T, phường L, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn M, sinh năm1964 và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án (nhưng không coi là án tích do bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng khi 16 tuổi 03 tháng 29 ngày): Bản án số 01 ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (cũ) xử phạt Nguyễn Hoài T mức án 20 tháng tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Ra trại ngày 07/5/2025. Bị cáo đầu thú
ngày 14/6/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Vũ Hoàng P, sinh năm 2003, trú tại: thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ).
(Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02h00' ngày 08/6/2025, Trần L1 điều khiền xe máy nhãn hiệu Wave (không mang biển kiểm soát) chở Nguyễn Hoài T ngồi sau đi chơi về qua khu vực Cầu thang 4 nhà B11 tập thể N, phường N, quận C, thành phố Hà Nội (nay thuộc phường N, thành phố Hà Nội) thì nhìn thấy trong gầm cầu thang dựng nhiều xe máy không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp. L1 bàn bạc với T quay lại lấy trộm xe, T đồng ý. Sau khi điều khiến xe quay vòng lại, L1 đứng trên lối cầu thang để cảnh giới, T xuống xe đi bộ vào trong gầm cầu thang tìm xe không khóa cổ, không khóa càng để báo cho L1 biết. Khoảng 05 phút sau, T đi ra nói với L1 "có xe AirBlade không khóa cổ, khóa càng", L1 xuống xe đi vào trong gầm cầu thang thì nhìn thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen biển kiểm soát: 28L1-234.87 của anh Vũ Hoàng P (Sinh năm: 2003; HKTT: thôn L, xã L, tỉnh Phú Thọ) không khóa cổ, không khóa càng nên tiến lại gần và dắt lùi chiếc xe ra ngoài rồi đưa cho T. Thương ngồi trên xe máy AirBlade màu đen biển kiểm soát: 28L 1-234.87 còn L1 điều khiến xe Wave dùng chân đẩy xe về nhà L1 tại địa chỉ tổ A, phường N, thành phố Hà Nội cất giấu. Sau đó, L1 cùng T tháo biển kiểm soát 28L1-234.87 rồi mang vứt tại khu vực đường H (L và T không nhớ vị trí vứt biển). Đến khoảng 08h00' cùng ngày, L1 liên hệ với hãng H2 và gọi thợ đến thay khóa từ của chiếc xe với giá 900.000 đồng. Sáng ngày 11/6/2025, T đưa cho L1 chiếc biển kiểm soát: 29C2- 153.07 đề L1 gắn vào xe máy AirBlade màu đen. Sau khi gắn biển kiểm soát khác, L1 và T điều khiển chiếc xe đến cửa hàng sửa chữa xe máy tại địa chỉ số C phố C, phường B, thành phố Hà Nội thuê anh Đào Anh T1 (Sinh năm: 2003; HKTT: thôn P, xã P, thành phố Hà Nội) dán đề-can thay đổi màu sắc của chiếc xe từ màu đen sang màu hồng với giá 350.000 đồng. Ngày 13/6/2025, L1 điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu hồng mang biển kiểm soát: 29C2-153.07 chở T ngồi phía sau đi trên phố P, khi đến khu vực trước số nhà A phố T, phường C, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Cảnh sát 141 – Công an thành phố H dừng xe kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bên trong cốp xe có 01 con dao dài khoảng 20 cm, khi rút dao ra chuôi có cán dài khoảng 10 cm, lưỡi dao có đầu nhọn bằng kim loại dài khoảng 10 cm. L1 và T không xuất trình được giấy tờ liên quan đến chiếc xe nên Tổ công tác đã bàn giao đối tượng và phương tiện cho Công an phường C giải quyết.
Cơ quan Công an đã thu giữ của L1: 01 xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu hồng mang biển kiểm soát: 29C2-153.07 (có số khung RLHJK1403PZ289444, số
máy: JK14E- 0309221) và 01 con dao dài khoảng 20 cm (khi rút dao ra chuôi có cán dài khoảng 10 cm, lưỡi dao có đầu nhọn bằng kim loại dài khoảng 10 cm).
Tại cơ quan Công an, Trần L1 và Nguyễn Hoài T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Công an phường C đã tiến hành bàn giao đối tượng và tang vật cho Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá số 113 ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen có giá trị 34.000.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 4262 ngày 28/07/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade mang biến kiểm soát: 29C2- 153.07 có số khung RLHJK1403PZ289444, số máy: JK14E- 0309221 nguyên thuỷ. Không giám định biển kiểm soát: 29C2-153.07 do không có mẫu so sánh.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade có số khung RLHJK1403PZ289444, số máy: JK14E- 0309221, biển kiêm soát: 28L1- 234.87 là của chị Đinh Thị L2 (Sinh năm: 1985; HKTT: xã L, tỉnh Phú Thọ - mẹ đẻ của anh Vũ Hoàng P) là chủ sở hữu hợp pháp. Chị L2 khai: chiếc xe trên chị cho anh P để sử dụng và toàn quyền định đoạt. Ngày 09/9/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại chiếc xe cho anh P, anh P đã nhận tài sản và không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Đối với anh Đào Anh T1 là người dán đề-can thay đổi màu xe theo yêu cầu của L1 và T, anh T1 không biết chiếc xe do L1 và T trộm cắp; đối với người thợ được L1 thuê sửa khóa từ, L1 không biết nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với con dao dài khoảng 20 cm (khi rút dao ra chuôi có cán dài khoảng 10 cm, lưỡi dao có đầu nhọn bằng kim loại dài khoảng 10 cm), L1 khai nhận mang đi để phòng thân. Cơ quan Công an ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L1 về hành vi Tàng trữ vũ khí thô sơ theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với chiếc biển kiểm soát: 29C2-153.07, qua điều tra xác định không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ.
Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKS-KV4 ngày 29/09/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Lực, Nguyễn Hoài Thương phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai như nội dung cáo trạng đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình. Bị cáo L1 khai rõ, bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, đưa xe đi dán lại và trả tiền, sau khi lấy được xe sẽ dùng để sử dụng một mình. Bị cáo T khai bị cáo thực hiện việc cảnh giới cho L1 trộm cắp, bị cáo không được sử dụng chiếc xe sau khi trộm cắp.
Đại diện VKSND khu vực 4 – Hà Nội thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các vấn đề khác, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38, Điều 58 (đối với 2 bị cáo), điểm h khoản 1 Điều 52, Khoản 5 Điều 65, Điều 56 (đối với bị cáo Trần L1), điểm b khoản 1 Điều 107 (đối với bị cáo Nguyễn Hoài T) Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần L1 từ 24 đến 28 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 6 tháng tù của bản án của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ. Bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 30 – 34 tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T từ 18 – 24 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên đề nghị HĐXX không xét.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy con dao và biển kiểm soát 29C2-153.07.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xác định có tội, bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận, bị cáo Trần L1 và bị cáo Nguyễn Hoài T đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu thu thập được, Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 02h00' ngày 08/6/2025, tại khu vực gầm Cầu thang 4 nhà B tập thể N, phường N, thành phố Hà Nội, Trần L1 và Nguyễn Hoài T đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen biển kiếm soát: 28L1-234.87 có giá trị 34.000.000 đồng của anh Vũ Hoàng P.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần L1 và bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Hà Nội là đúng người, đúng tội.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, nhưng vì
lười lao động, ham chơi, đua đòi nên khi nhìn thấy tài sản không người trông giữ, đã nảy sinh ý định chiếm đoạt để sử dụng. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải có hình phạt tù nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục với các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo L1 là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, mang xe đi dán màu khác, trả tiền sửa xe và là người được sử dụng chiếc xe sau khi trộm cắp. Bị cáo T đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực là cảnh giới cho L1 trộm cắp xe. Do đó, mức hình phạt áp dụng với bị cáo L1 sẽ cao hơn bị cáo T.
[3] Về tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo Trần L1 có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bản án số 231 ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ (cũ) xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án về tội trộm cắp tài sản. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo.
Bị cáo Nguyễn Hoài T bị Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (cũ) xử phạt 20 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 01 ngày 04/01/2024. Ra trại ngày 07/5/2025. Thời điểm phạm tội bị cáo 16 tuổi 3 tháng 29 ngày nên không coi là án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; các bị cáo đầu thú, tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một hình phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về tổng hợp hình phạt: Bị cáo Trần L1 phạm tội trong thời gian thử thách của án treo theo Bản án số 231 ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ. Căn cứ khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[6] Biện pháp tư pháp:
- - Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy con dao và biển kiểm soát 29C2-153.07.
- - Về dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên không xét.
[7] Về án phí: Mỗi cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần L1 và bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65, Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần L1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Tổng hợp 06 tháng tù của Bản án số 231 ngày 11/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Tây Hồ (cũ) về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/06/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài T 19 (Mười chín) tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày 15/06/2025.
3. Biện pháp tư pháp:
- - Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 20 cm (khi rút dao ra chuôi có cán dài khoảng 10 cm, lưỡi dao có đầu nhọn bằng kim loại dài khoảng 10 cm) và 01 biển kiểm soát: 29C2-153.07.
(Vật chứng được lưu giữ lại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 4 – Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 23 ngày 17/10/2025).
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Trần L1 và bị cáo Nguyễn Hoài T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại Vũ Hoàng P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Ngọc Thùy |
Bản án số 178/2025/HSST ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 178/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
