Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19+ 20-3-2025

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thuỳ Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân

Ông Lê Bá Lung.

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống

Đa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham

gia phiên toà: Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 994/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 390/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 553/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024; Thông báo mở lại phiên toà số 790/TB-TA ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1985; HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: P301 nhà A10 TT K, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Lê Đức V, sinh năm 1982; HKTT: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Tạm trú: P301 nhà A10 TT K, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện; Bản tự khai và các văn bản trình bày tiếp theo tại Tòa nguyên đơn – chị Đào Thị H trình bày:

  • – Về tình cảm: Chị và anh Lê Trung K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ngày 18/4/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chuyển ra Hà Nội công tác và thuê nhà sinh sống từ đó đến nay. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, anh V vay nợ nhiều người, không chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho chị và các con, ngoài ra chị còn phải trả nợ rất nhiều người thay cho anh V, hai bên không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân.

Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đức V.

  • – Về con chung: Chị và anh V có 02 con chung là cháu Lê Thị Lâm A, sinh ngày 11/12/2015 và cháu Lê An Khánh N, sinh ngày 30/11/2020. Ly hôn, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
  • – Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Vay nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Ngoài những vấn đề trên, chị không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề gì khác.

* Tại các biên bản làm việc tại Toà án bị đơn – anh Lê Đức V trình bày:

  • – Về tình cảm: Anh và chị Đào Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ngày 18/4/2019. Anh nhận thấy, trong quá trình chung sống, giữa anh và chị H chỉ có những mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức phải ly hôn. Anh đề nghị Toà án hoà giải cho anh chị đoàn tụ.
  • – Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Lê Thị Lâm A, sinh ngày 11/12/2015 và cháu Lê An Khánh N, sinh ngày 30/11/2020. Trường hợp ly hôn, anh đề nghị Toà án giải quyết cho mỗi người nuôi dưỡng một con chung, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
  • – Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • – Vay nợ chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện, cụ thể:

  • – Về tình cảm: Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Đức V.
  • – Về con chung: Chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Về vấn đề cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung.
  • – Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H không yêu cầu giải quyết.
  • – Về nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn trình bày anh vẫn mong muốn đoàn tụ vợ chồng, tuy nhiên nếu ly hôn anh đề nghị: về pháp lý thì anh đề nghị mỗi người được nuôi dưỡng một con chung, vì anh là người có địa vị xã hội, có đủ khả năng kiếm tiền, không dính dáng tệ nạn gì khác ngoài vấn đề tài chính nên anh có quyền nuôi 01 con chung; còn về thực tế thì anh vẫn đồng ý để 2 con được ở cùng với chị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm ý kiến:

Tố tụng:

Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa xét xử ngày hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành tố tụng theo đúng các trình tự tố tụng mà Bộ luật tố tụng dân sự quy định, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Nội dung:

Sau khi phát biểu đánh giá các tình tiết của vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử :

  • Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H đối với anh V. Chị H được ly hôn anh V.
  • Về con chung: Giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh V.
  • Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét.
  • Án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

I. Về tố tụng

Quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa chị Đào Thị H và anh Lê Đức V là ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thẩm quyền: Bị đơn – anh Lê Đức V có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa và hiện đang tạm trú tại P301 nhà A10 TT K, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.

II. Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án, lời khai của chị H, anh V và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện: Chị H và anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa ngày 18/4/2019 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2019 của UBND xã Q. Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, xác nhận hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa thể hiện: Chị H và anh V đăng ký kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2019. Quá trình anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn, chị H cho rằng mâu thuẫn giữa anh chị đã rất trầm trọng, còn anh V cho rằng đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày chủ yếu là xuất phát từ vấn đề kinh tế, anh V không quan tâm, chăm sóc gia đình, không có bất kỳ đóng góp nào trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái, ngoài ra chị còn phải trả nợ rất nhiều người thay cho anh V, từ đó dẫn đến nhiều bất đồng trong cuộc sống.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Thực tế, giữa anh chị có phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu là xuất phát từ vấn đề kinh tế, anh V không có đóng góp gì cho kinh tế gia đình, không quan tâm, chăm sóc gia đình, làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Chị H và anh V đã nhiều lần nói chuyện, anh V có hứa sửa chữa, nhưng vẫn không thay đổi. Tại Biên bản hòa giải ngày 22/11/2024, anh V cho rằng mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu phát sinh từ vấn đề kinh tế do gần đây anh gặp khó khăn, có một số khoản nợ nhưng anh khẳng định anh đang cố gắng khắc phục và sẽ bù đắp cho chị H và các con. Tuy nhiên, cho đến phiên tòa hôm nay anh V và chị H vẫn chưa khắc phục được những mâu thuẫn, trong thời gian này anh V cũng không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Hội đồng xét xử nhận định giữa chị H và anh V không còn tồn tại cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H khởi kiện ly hôn anh V là có căn cứ, cần được chấp nhận. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[2]. Về con chung: Chị H và anh V có 02 con chung là cháu Lê Thị Lâm A, sinh ngày 11/12/2015 và cháu Lê An Khánh N, sinh ngày 30/11/2020. Ly hôn, chị H yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V yêu cầu Toà án giải quyết cho mỗi người nuôi dưỡng một cháu, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

HĐXX nhận định: Xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, HĐXX nhận thấy chị H và anh V đều có việc làm, có thu nhập ổn đinh. Hiện tại, chị H là nhân viên ngân hàng TMCP Đ, có thu nhập trung bình hàng tháng là 21.600.000 đồng. Anh V là nhân viên Công ty CP Đ1, có mức lương trung bình hàng tháng là 23.000.000 đồng. Cả hai anh chị hiện đều đang ở cùng với các con tại địa chỉ P301, TT A, ngõ A T, Đ, Hà Nội. Xét thấy cả chị H và anh V đều có đầy đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, khi xem xét, đánh giá việc giao các con chưa thành niên cho người cha hay người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng cần phải xem xét đánh giá khách quan, đảm bảo về quyền lợi chính đáng, đồng thời đảm bảo phát triển toàn diện tâm sinh lý của các con. Xét nguyện vọng của cháu Lâm A, theo đơn trình bày cháu có nguyện vọng xin được ở với mẹ, còn cháu Khánh N thì còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Hai cháu đều là nữ, việc được ở cùng với mẹ sẽ đảm bảo cho các cháu được phát triển tâm sinh lý ổn định hơn. Do đó, HĐXX quyết định giao cả hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về vấn đề cấp dưỡng: Do chị H không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh V.

Anh V được quyền đi lại, thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

[3]. Về tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H, anh V không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[4]. Về nợ chung: Chị H, anh V không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 3, Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Đào Thị H đối với anh Lê Đức V.
  2. Chị Đào Thị H được ly hôn anh Lê Đức V.

  3. Con chung: Xác nhận chị H và anh V có 02 con chung là Lê Thị Lâm A, sinh ngày 11/12/2015 và Lê An Khánh N, sinh ngày 30/11/2020.
  4. Giao cả hai con chung cho chị Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh V cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc khi có quyết định khác thay thế.

    Anh V được quyền đi lại, thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

  5. Tài sản chung (động sản, bất động sản): Chị H, anh V không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  6. Nợ chung: Chị H, anh V không yêu cầu giải quyết nên không xét.
  7. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp trực tuyến vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số [...] ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Công ty cổ phần T.

Chị H, anh V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thùy Dương

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 178/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger