trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – HUẾ

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 178/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/10/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Xuân và ông Trần Đăng Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Huế, thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Huế, thành phố H (số E đường Đ, phường H, thành phố H sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 03/2025/TLST-HNGĐ ngày 09/7/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/9/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/9/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T năm 1990; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, thành phố H, có mặt.

Bị đơn: Anh Đỗ Văn C năm 1983; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, thành phố H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18/6/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Phạm Thị T1 trình bày:

Chị và anh Đỗ Văn C1 ký kết tại Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/5/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh C2 xuyên nhậu nhẹt, gây gổ, đánh đập chị, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị đã bỏ nhà đi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2018 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh C3 ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị T2 chị và anh Đỗ Văn C4 01 con chung là cháu Đỗ Văn N ngày 06/6/2018, hiện ở với chị. Chị T3 nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu N1 không yêu cầu anh Ccấp D nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị T4 yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Văn C5 có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/9/2025, anh Phạm Thế H(anh trai của chị T) trình bày: Vợ chồng chị Tanh C6 tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, do anh C7 nhậu nhẹt về nhà đuổi chị T, nên vợ chồng hay xích mích, cãi vã nhau. Đến năm 2018 thì chị T5 về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại tổ dân phố L, phường H, thành phố H Chị Tanh Ccó 01 con chung là cháu Đỗ Văn N ngày 06/6/2018, ở với chị T từ nhỏ cho đến nay. Anh C8 việc không ổn định nên không quan tâm, chăm sóc và cấp dưỡng gì cho cháu cả. Nay chị T6 ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết cho chị T9 ly hôn với anh C9 mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng.

Tại văn bản trình bày nguyện vọng cháu Đỗ Văn N2(con trai chị Tanh C10 bày: Nếu bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại biên bản xác minh ngày 15/8/2025 tại UBND phường H thể hiện: “Quá trình chung sống, chị T7 anh C11 ra mâu thuẫn, chị T5 nhà đi từ năm 2018 cho đến nay. Anh C12 sống một mình tại TDP L, phường H, thành phố H

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn anh C13 trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Ccấp D nuôi con.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố H ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị T8 Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T9 ly hôn anh Đỗ Văn C14 Về con chung: Giao cháu Đỗ Văn N ngày 06/6/2018 cho chị Phạm Thị Ttiếp T10 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T4 yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Do chị T4 yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc chị T11 chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị T8 khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Đỗ Văn C14. Anh C4 nơi cư trú tại tổ dân phố L, phường H, thành phố H, Toà án nhân dân khu vực 3 – Huế thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15.

Anh C15 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên toà, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T8 và anh Đỗ Văn C14 có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 26/5/2017 (số A 2017). Như vậy, hôn nhân giữa chị T7 anh C là hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị T12 đồng xét xử thấy rằng: Quá trình chị T7 anh C chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh C2 xuyên nhậu nhẹt, gây gổ, đánh đập chị, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị đã bỏ nhà đi. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2018 cho đến nay là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng anh C6 đến Toà án để làm việc, hoà giải và không tham gia xét xử tại phiên toà, không liên lạc với chị T13 có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hoà giải đoàn tụ gia đình, thể hiện việc không quan tâm đến gia đình và không còn tình nghĩa vợ chồng.

Xét thấy hôn nhân giữa chị T7 anh C15 mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn của chị T14 chị T9 ly hôn anh C

[2.3] Về con chung: Chị Phạm Thị T8 và anh Đỗ Văn C14 có 01 con chung là cháu Đỗ Văn N ngày 06/6/2018, hiện đang ở với chị T

Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị T Hội đồng xét xử thấy rằng: Kể từ thời điểm vợ chồng anh C và chị T sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay thì con chung đều do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C có thăm nom, chăm sóc con chung. Nhằm để đảm bảo sự phát triển bình thường, sinh hoạt, học tập và ổn định tâm lý cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không gây xáo trộn việc hiện nay cháu N đang ở với chị T, nên Hội đồng xét xử cần phải giao cháu Đỗ Văn N2 cho chị T15 tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của cháu N3 hợp với quy định của pháp luật tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.4] Về việc cấp dưỡng cho con: Do chị T4 có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T4 yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Về án phí: Chị T11 chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15.

Áp dụng Điều 51, Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị Phạm Thị T16 với anh Đỗ Văn C16 việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Chị Phạm Thị T9 ly hôn anh Đỗ Văn C14

2. Về con chung:

Giao con chung là cháu Đỗ Văn N ngày 06/6/2018 cho chị Phạm Thị Ttiếp T10 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở.

Anh C17 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

Chị T4 yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Chị T11 chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0003403 ngày 09/7/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố H Chị T17 nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND khu vực 3-Huế;
  • - Phòng Thi hành án khu vực 3-Huế;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Hương Trà, thành phố Huế.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2025/HNGĐ-ST ngày 13/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 178/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thảo Chữ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger