Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 178/2025/HNGĐ-ST

Ngày 03-6-2025

V/v Tranh chấp ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
  2. Bà Đỗ Mỹ Lil

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 03 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phan Hồng N, sinh năm 1983 (có mặt)

    Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khóm G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau

  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1981 (có mặt)

    Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 18/4/2025, biên bản hòa giải ngày 06/5/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Hồng N trình bày:

  • - Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B sống chung với nhau từ năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 12/4/2012). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường hay cải nhau. Anh B không có chăm lo cho cuộc sống gia đình, trong gia đình anh B là người gia trưởng, vợ chồng với nhau nhưng không có tiến nói chung, từ những mâu thuẫn đó chị đã bỏ về bên gia đình chị sống cách nay hơn 01 tháng. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

  • - Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh B có 02 người con tên Nguyễn Thu Y, sinh ngày 21/7/2013 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/5/2015. Khi ly hôn chị yêu cầu xem xét nguyện vọng của các con ở với ai thì người đó nuôi, không đặt ra cấp dưỡng.

  • - Về tài sản chung: Chị xác định có tài sản nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

  • - Nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản hòa giải ngày 06/5/2025 và tại phiên tòa anh Nguyễn Văn B trình bày: Anh thống nhất trình bày của chị N cụ thể: Về hôn nhân: Anh và chị N sống chung với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định. Về mẫu thuẫn dẫn đến ly hôn là có nhưng theo anh thì mâu thuẫn không lớn có thể hàng gắng lại được. Do anh vẫn còn thương vợ thương con nên không đồng ý ly hôn với chị N; Về con chung: Có 02 người con chung đúng như chị N trình bày. Khi ly hôn anh đồng ý xem xét nguyện vọng của các con ở với ai thì người đó nuôi. Không đặt ra việc cấp dưỡng; Về tài sản chung và nợ thống nhất như trình bày của chị N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa chị Phan Hồng N kiên quyết ly hôn.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn B cũng thống nhất nếu chị N cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Văn B có nơi cư trú tại ấp Đ, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Phan Hồng N khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Nguyễn Văn B tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị N là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị N là nguyên đơn, anh B là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Hồng N và anh Nguyễn Văn B xác lập quan hệ vợ chồng vào cuối năm 2012, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn theo luật định. Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị N và anh B phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống không hòa hợp, không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau. Chị N và anh B sống ly thân hơn 01 tháng nay. Còn anh B xin đoàn tụ nhưng anh không có biện pháp gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Vì, thực tế hôn nhân phải được xây dựng trên tình cảm và sự tôn trọng lẫn nhau, chỉ một mình anh B cố gắng hàn gắn trong khi chị N xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn. Xét, mâu thuẫn giữa chị N và anh B là thực tế có xảy ra, hiện chị và anh đã sống ly thân hơn 01 tháng nay. Tại phiên tòa anh B cũng thống nhất nếu chị N cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, cho chị N được ly hôn với anh B.

[3] Về con chung: Chị N và anh B có 02 người con chung tên Nguyễn Thu Y, sinh ngày 21/7/2013 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/5/2015. Khi ly hôn các bên yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con ở với ai thì người đó nuôi

X, con chung tên Nguyễn Thu Y, sinh ngày 21/7/2013 và Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/5/2015. Hiện nay các cháu đã trên 07 tuổi. Theo quy định khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định con trên 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của con. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 19/5/2025 thì ước nguyện của các cháu như sau: Khi chị N và anh B ly hôn thì cháu Y có ước nguyện ở với chị N, cháu K có ước nguyện ở với anh B. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Giao cháu Nguyễn Thu Y, sinh ngày 21/7/2013 cho chị Phan Hồng N được trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/5/2015 cho anh Nguyễn Văn B được trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng: Chị N và anh B không đặc ra nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị N và anh B xác định tự thỏa thuận nên HĐXX không đặt ra xem xét. Sau này có phát tranh chấp được giải quyết ở vụ án khác

[6] Về nợ chung: Các bên xác định không có nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị N phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Hồng N về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thu Y, sinh ngày 21/7/2013 (Giới tính: Nữ) cho chị Phan Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Y đủ 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/5/2015 (Giới tính: Nam) cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu K1 đủ 18 tuổi. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản. (Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật).

  3. Về án phí: Chị Phan Hồng N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng. Ngày 18/4/2025 chị N đã dự nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0005500 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

  4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Cơ quan đã đăng ký việc kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Chí Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 178/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger