TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2025/DSPT Ngày: 13/11/2025 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Tuyết Mai
Ông Nguyễn Trung Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 241/2025/TLPT-DS ngày 17/10/2025 về “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 26/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Võ Văn M, sinh năm 1973 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị đơn:
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (có mặt)
- Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1968
Địa chỉ: xóm N, thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: xóm N, thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Nguyễn Ánh H1, sinh năm 1964; địa chỉ: thôn C, xã H, tỉnh Bắc Ninh. (ông H1 có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị Q, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Q: Ông Võ Văn M, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh (ông M có mặt)
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
* Nguyên đơn là ông Võ Văn M trình bày: Ông có quan hệ quen biết vợ chồng ông H, bà C nên ông H, bà C có vay tiền của gia đình ông nhiều lần. Các lần vay có lần đã trả, có lần không trả được. Đến ngày 16/01/2023, giữa ông và vợ chồng ông H, bà C có chốt nợ với nhau tại nhà ông H, bà C. Sau khi đối chiếu từng mã vay, trừ đi các lần đã trả, thì số tiền ông H, bà C còn nợ là 4.490.000.000 đồng. Hai bên đã thống nhất viết giấy biên nhận vay tiền mới với số tiền là 4.490.000.000 đồng; thời hạn vay là 01 năm; lãi xuất thỏa thuận là 1.5%/ tháng; mục đích vay để kinh doanh. Các giấy vay cũ đều bỏ đi không còn giá trị nữa. Vợ chồng ông H, bà C có ký nhận và điểm chỉ vào bên vay tiền, có sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị T là con dâu ông H, bà C.
Sau khi chốt nợ, ngày 16/01/2023 vợ chồng ông H, bà C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho gia đình ông theo thỏa thuận. Ông đến gia đình ông H, bà C đòi tiền nhiều lần, nhưng vợ chồng ông H, bà C không trả. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông H, bà C phải có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông số tiền nợ gốc là 4.490.000.000 đồng và số tiền lãi là 10%/năm kể từ ngày 16/01/2023 cho đến ngày xét xử tính tròn là 30 tháng = 1.122.500.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc và lãi ông yêu cầu là 5.612.500.000 đồng.
* Bị đơn là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị C trình bày: Vợ chồng ông, bà và gia đình ông Võ Văn M là chỗ quen biết. Do cần vốn để kinh doanh, vợ chồng ông có vay tiền của gia đình ông M nhiều lần. Các lần vay đều có giấy tờ, vợ chồng ông đều ký nhận, có lần đã trả, có lần chưa trả được. Đến ngày 16/01/2023, giữa vợ chồng ông bà và ông M có chốt nợ với nhau và viết lại thành giấy biên nhận vay tiền mới số tiền vay là 4.490.000.000 đồng. Vợ chồng ông xác định chữ ký và điểm chỉ trong giấy biên nhận vay tiền đúng là chữ ký và điểm chỉ của vợ chồng ông. Ngoài ra, còn có sự chứng kiến và chữ ký của con dâu ông bà là Nguyễn Thị T. Tuy nhiên, do kinh doanh thua lỗ nên vợ chồng ông bà không trả cho gia đình ông M theo thỏa thuận. Nay ông M có đơn khởi kiện yêu cầu ông, bà trả số tiền gốc còn nợ là 4.490.000.000 đồng và lãi xuất là 10%/ năm thì ông bà đồng ý.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H, bà C trình bày: Gia đình ông bà đã trừ trả nợ cho ông M bằng 01 thửa đất. Tuy nhiên, khi chốt nợ ông M không trừ đi cho số tiền đã bán đất và số tiền ông bà đã trả, ông bà đề nghị Tòa án trừ đi số tiền bán đất theo Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 20/12/2022 mà ông có cung cấp cho Tòa án bản phô tô.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Q trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của chồng bà là ông M. Bà yêu cầu ông H, bà C phải trả cho gia đình bà số tiền gốc là 4.490.000.000 đồng vay tiền lãi như ông M yêu cầu.
* Người làm chứng chị Nguyễn Thị T tại biên bản ghi lời khai trình bày: Chị là con dâu của ông H, bà C. Ngày 16/01/2023, ông H, bà C cùng ông M có ký với nhau giấy biên nhận vay tiền là có thật, chị có mặt ở đó và có chứng kiến và có ký vào giấy vay tiền. Do điều kiện công việc, chị có đơn xin vắng mặt khi hòa giải và xét xử vụ án.
* Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn M. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị C phải có nghĩa vụ trả cho ông Võ Văn M, bà Hoàng Thị Q tổng số tiền cả gốc và lãi là 5.612.500.000 đồng. Trong đó (tiền nợ gốc là 4.490.000.000; tiền nợ lãi là 1.122.500.000 đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Ngày 01/8/2025, bị đơn là ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại số tiền vay và số tiền lãi. Gia đình ông đã gán cho anh M thửa đất trị giá 2.600.000.000đồng và con trai ông là anh H2 đã chuyển trả cho anh M số tiền 1.443.000.000đồng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Ông H trình bày: Gia đình ông còn nợ vợ chồng ông M tiền nhưng không nhớ rõ tổng số tiền đã vay và tổng số tiền đã trả và số còn nợ lại là bao nhiêu. Đề nghị Tòa án xem xét tổng số tiền ông M đang khởi kiện trừ đi số tiền 2.600.000.000đồng ông đã bán đất cho vợ chồng ông M và anh H2 có chuyển khoản 1.443.000.000đồng để trả ông M. Ông ký vào giấy vay đề ngày 16/01/2023 là do vợ chồng ông bị ông M ép ký vào giấy vay nên ông đề nghị Tòa án xem xét không buộc ông phải trả số tiền ông M khởi kiện.
- Ông M trình bày: Ông H bà C còn nợ 4.490.000.000đồng được thể hiện trong biên bản ngày 16/01/2023. Chữ viết trong giấy vay là của chị T con dâu của ông H bà C viết hộ và ký người làm chứng. Giấy vay được lập tại nhà ông H. Khi đến nhà ông H thì ông đi một mình, ông không ép vợ chồng ông H ký giấy vay. Năm 2022 ông H, bà C có bán cho vợ chồng ông thửa đất giá 2.600.000.000đồng và anh H2 có chuyển khoản 1.443.000.000đồng như ông H trình bày là đúng nhưng số tiền đó đã được thanh toán xong và đối trừ hết từ trước năm 2022 không còn liên quan gì đến khoản nợ được thể hiện trong biên bản ngày 16/01/2023. Do ông với gia đình ông H đã đối chiếu các khoản nợ đã vay và đã thanh toán nên đã chốt lại số tiền còn lại chưa thanh toán là 4.490.000.000đồng và bỏ toàn bộ giấy vay cũ. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Ánh H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà C trình bày: Ông đồng ý lời trình bày của ông H, ông không đồng ý với phần trình bày của ông M, đề nghị Tòa án xem xét buộc ông M phải trừ đi số tiền gia đình ông M đã thanh toán là tiền đất 2.600.000.000đồng và tiền anh H2 chuyển khoản trả ông M 1.443.000.000đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án. Tại phiên tòa ông M có thừa nhận việc vợ chồng ông H có bán cho ông M thửa đất và anh H2 có chuyển khoản trả anh M số tiền 1.443.000.000đồng như ông H trình bày nhưng số tiền này đã được trừ hết vào năm 2022. Sau khi ký vay ngày 16/01/2023 gia đình ông H không có căn cứ chứng minh đã trả tiền cho ông M. Tại phiên tòa ông H cũng như đại diện theo ủy quyền của bà C cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Bị đơn là ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn H:
[1.1]. Đối với số tiền gốc 4.490.000.000 đồng, Hội đồng xét xử thấy:
Các đương sự trong vụ án đều thừa nhận: Nguyên đơn là ông Võ Văn M có quan hệ quen biết vợ chồng ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị C nên ông H, bà C có vay tiền của gia đình ông M nhiều lần. Các lần vay có lần đã trả, có lần không trả được. Tại phiên tòa ông M xác định ông H bà C còn nợ 4.490.000.000 đồng được thể hiện trong biên bản ngày 16/01/2023. Chữ viết trong giấy vay là của chị T con dâu của ông H bà C viết hộ và ký người làm chứng. Giấy vay được lập tại nhà ông H. Năm 2022 ông H bà C có bán cho anh thửa đất là đúng nhưng số tiền đó đã được thanh toán xong từ năm 2022 không còn liên quan gì đến khoản nợ đã ký ngày 16/01/2023.
Tại phiên tòa ông H xác định gia đình ông còn nợ vợ chồng ông M tiền nhưng không nhớ rõ tổng số tiền đã vay và tổng số tiền đã trả và số còn nợ lại là bao nhiêu, ông có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tổng số tiền ông M đang khởi kiện trừ đi cho ông số tiền 2.600.000.000đồng ông đã bán đất cho vợ chồng anh M và số tiền anh H2 có chuyển khoản trả anh M số tiền 1.443.000.000đồng. Còn thiếu bao nhiêu ông đồng ý trả.
Phía nguyên đơn là ông M cho rằng từ khi chốt nợ đến nay, bị đơn là ông H, bà C chưa trả cho ông đồng nào. Tuy nhiên, phía bị đơn là ông H, bà C lại cho rằng, gia đình ông bà đã có lần trả tiền và có trừ trả nợ cho ông M bằng 01 thửa đất; nhưng khi chốt nợ, ông M không trừ đi cho số tiền đã bán đất và số tiền ông bà đã trả. Để chứng minh cho lời trình bày của mình, ông H, bà C xuất trình bản phôtô Hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 20/12/2022 và các giấy tờ thể hiện các giao dịch chuyển khoản từ năm 2022. Như vậy, các tài liệu, chứng cứ mà ông H, bà C xuất trình đều được lập từ năm 2022. Còn sau ngày hai bên thực hiện việc chốt nợ theo Giấy vay tiền theo thỏa thuận được lập ngày 16/01/2023, ông H, bà C không xuất trình được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc mình đã thanh toán một khoản nợ cho nguyên đơn. Hơn nữa, nếu tại thời điểm năm 2022, ông H, bà C đã thanh toán một khoản nợ nhất định theo các giấy tờ mà ông bà xuất trình cho nguyên đơn thì sẽ không có việc ông H, bà C thống nhất chốt nợ với ông M vào ngày 16/01/2023. Bản thân ông H, bà C cùng con dâu là người làm chứng cũng thừa nhận có ký và điểm chỉ vào Giấy vay tiền theo thỏa thuận trên. Do đó, bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của ông M về việc buộc ông H, bà C trả lại số tiền gốc 4.490.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.2]. Đối với yêu cầu trả tiền lãi, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 16/01/2023, giữa ông M và ông H, bà C có xác lập Giấy vay tiền với nội dung: Số tiền vay là 4.490.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 16/01/2023, lãi suất hai bên thỏa thuận là 1,5%/tháng (tương đương 18%/năm). Mức lãi suất này không vượt quá mức lãi suất cho vay theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Do đó, thỏa thuận về lãi suất giữa hai bên là hợp pháp.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông M chỉ yêu cầu mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 16/01/2023 cho đến ngày xét xử tính tròn là 30 tháng = 1.122.500.000 đồng. Mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định của pháp luật, không vượt quá giới hạn lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Đồng thời, ông H, bà C cũng đồng ý với yêu cầu về tiền lãi của ông M. Vì vậy, việc bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông M về việc tính lãi suất chậm trả 10%/năm kể từ ngày 16/01/2023 đến ngày xét xử (25/7/2025) và xác định số tiền lãi ông H, bà C phải trả cho ông M là 1.122.500.000 đồng là có căn cứ.
[2]. Từ những nội dung trên HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4]. Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Nguyễn Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 07/2025/DS-ST ngày 25/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Bắc Ninh.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000002 ngày 01/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 178/2025/DSPT ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 178/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
