Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 178/2024/HSST

Ngày: 20/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Và Kíu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Ngọc Hùng

Ông Nguyễn Đình Quang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/TLST-HS ngày 17/5/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:

Thạch Đạo Văn T ; sinh năm 2002 tại: Ninh Thuận; giới tính: Nam.

Nơi đăng ký HKTT: thôn Thành T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Chăm; tôn giáo: Bani.

Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông Thạch Đạo Thái P, sinh năm 1976 (còn sống)

Con bà Kiều Thị T, sinh năm 1974 (còn sống).

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 02.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp ngày 09/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trảng Bom.

Bị hại: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1989 và bà Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1998. Địa chỉ: ấp Sông Mây, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1958. Địa chỉ: số 03, ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
  • + Bà Lưu Thị Xuân T, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(bị cáo có mặt, các đương sự khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, Tùng đi tìm tài sản sơ hở của nhà dân để trộm cắp. Khoảng 01 giờ ngày 29/02/2024, Tùng đi ngang nhà anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu V, ở tại ấp A, xã B, huyện Trảng Bom thì thấy đèn sáng, không khóa cửa, T quan sát xung quanh không thấy ai nên Tùng lén lút đi vào trong nhà. T nhìn thấy 02 chiếc xe mô tô để ở giữa nhà, đầu xe hướng ra cửa, trong phòng ngủ vợ chồng anh Đ đang ngủ trên giường, dưới nền nhà cạnh giường ngủ có 02 chiếc điện thoại đang sạc pin và 02 con heo đất để trên tủ thuốc. T lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, 01 điện thoại hiệu OPPO A78 màu đen và 02 con heo đất. T mang 02 con heo đất ra vị trí giữa nhà để đập vỡ lấy tài sản nhưng bên trong không có tài sản gì. Tùng quan sát thấy xe môtô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng, biển số 60B8 - 393.41 (cắm sẵn chìa khóa trên ổ khoá) nên T đẩy chiếc xe từ trong nhà ra bên ngoài đường. Khi đẩy được xe ra bên ngoài đường thì Tùng nổ máy và điều khiển xe đi đến bãi đất trống sau chợ S, thuộc ấp A, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, T mở cốp xe để kiểm tra tài sản bên trong thì thấy có 01 bóp da, bên trong có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 60B8 - 393.41; 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe của anh Đ. Tùng giữ lại 01 giấy chứng nhận đăng ký xe môtô biển số 60B8 - 393.41, còn các giấy tờ còn lại T vứt vào đống lửa đang cháy gần đó. Sau đó T cất giấu xe tại bãi đất trống phía sau chợ Sông Mây nhằm mục đích tránh định vị của xe và cất 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 02 chiếc điện thoại vừa trộm được vào túi quần rồi đi bộ về phòng trọ cất giấu.

Đến khoảng 07 giờ ngày 29/02/2024 T quay lại bãi đất trống lấy xe mang đi tiêu thụ. T điều khiển xe môtô 60B8- 393.41 đi đến tiệm cầm đồ Phi Tài, thuộc ấp A, xã B, huyện Trảng Bom do bà Nguyễn Hồng L làm chủ cầm cố được số tiền 5.000.000 đồng. Đến ngày 02/3/2024, Tùng đem chiếc điện thoại OPPO A78 trộm cắp được đến tiệm cầm đồ M thuộc ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom do bà Lưu Thị Xuân T làm chủ cầm cố được số tiền 2.200.000 đồng, khi cầm cố xe và điện thoại di động Tùng không nói cho bà L và bà T biết nguồn gốc tài sản do phạm tội mà có, còn chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 pro T bán cho một người không rõ nhân thân lai lịch số tiền 1.500.000 đồng. T sử dụng số tiền bán xe và điện thoại trên để mua ma túy và tiêu xài hết.

Bị mất tài sản, anh Đ đã làm đơn trình báo Công an xã Bắc Sơn. Công an xã Bắc Sơn đã lập hồ sơ ban đầu, thu giữ vật chứng và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom giải quyết theo thẩm quyền

Vật chứng thu giữ: 01 hợp đồng cầm đồ do tiệm cầm đồ P lập ngày 29/02/2024 nội dung cầm cố xe mô tô 60B8-393.41 giá 5.000.000 đồng, 01 biên nhận cầm đồ tại dịch vụ cầm đồ Minh T thuộc ấp A, xã Bắc Sơn, nội dung T cầm cố 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78 với giá 2.200.000 đồng, 01 chiếc đèn pin; 01 quần đùi màu xám, 01 áo thun màu đen; 01 đôi dép và 01 ĐTDĐ

hiệu Iphone Xr, số sim: 0358.849.xxx của T ; 01 USB lưu giữ hình ảnh liên quan hành vi phạm tội của Tùng do anh Đ giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78 do bà T giao nộp; 01 xe mô tô hiệu Vison biển số 60B8-393.41 do bà L giao nộp.

Ngày 18/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Thạch Đạo Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 15/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân huyện Trảng Bom kết luận: 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 60B8-393.41 đã qua sử dụng có giá 9.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng có giá 12.750.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78 đã qua sử dụng có giá 2.750.000 đồng. Tổng trị giá tài sản của anh Đ chị V bị T trộm cắp là 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng).

Tại cáo trạng số 172/CT-VKS-TB ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố Thạch Đạo Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 USB được niêm phong; 01 hợp đồng cầm đồ do tiệm cầm đồ Phi Tài lập ngày 29/02/2024 và 01 biên nhận cầm đồ tại dịch vụ cầm đồ M là chứng cứ lưu hồ sơ vụ án.
  • + Đối với 01 xe mô tô hiệu Vision biển số 60B8-393.41 và chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A78 là tài sản hợp pháp của anh Đ và chị V , Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Đ và chị V .
  • + Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, T khai bán cho một người không rõ lai lịch thông qua mạng xã hội nên không thu hồi được.
  • + Đối với 01 cái quần đùi, 01 cái áo thun màu đen và 01 đôi dép, Cơ quan điều tra trả lại cho T .
  • + Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xr có gắn sim số 0358.849401 của T sử dụng để lên mạng xã hội tiêu thụ tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro trộm cắp của anh Đ, chị V . Đề nghị Tòa tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • + Đối với chiếc đèn pin Tùng sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu V yêu cầu Tùng bồi thường số tiền tương đương với trị giá chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro mà T trộm cắp là 12.750.000 đồng. Bà Nguyễn Hồng L yêu cầu T phải trả cho bà số tiền đã cầm chiếc xe mô tô 60B8- 393.41 là 5.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều

51 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Thạch Đạo Văn T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đ, chị V, bà L, bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đồng thời, trong hồ sơ có đầy đủ lời khai nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiến hành xét xử vắng mặt.

[2]. Về trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đồng thời đúng với hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy bị cáo đã có hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 01 giờ ngày 29/02/2024 Thạch Đạo Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B8-393.41 có giá 9.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro có giá 12.750.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu OPPO A78 có giá 2.750.000 đồng của gia đình anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu V ở tại ấp A xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Tổng trị giá tài sản mà Tùng trộm cắp của anh Đ chị V là 24.500.000 đồng (Hai mươi bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Hành vi lén lút của bị cáo nhằm lấy tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Đ, chị V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3]. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với bà Nguyễn Hồng L và bà Lưu Thị Xuân T khi cầm cố xe và điện thoại di động không biết tài sản do Tùng phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom không xử lý.

Đối với đối tượng mua chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro của T, T khai không rõ nhân thân lai lịch nên không có căn cứ xác minh xử lý.

[4]. Xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy đối với chiếc đèn pin bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội.
  • + Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xr có gắn sim số 0358.849401 mà bị cáo sử dụng để lên mạng xã hội tiêu thụ tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro trộm cắp của anh Đ, chị V.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường cho anh Đ, chị V số tiền 12.750.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường cho bà Liên số tiền 5.000.000 đồng là tiền cầm cố chiếc xe mô tô BS 60B8- 393.41.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[7]. Xét, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Trảng Bom phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
    • - Tuyên bố bị cáo Thạch Đạo Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Thạch Đạo Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/3/2024.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Buộc bị cáo Thạch Đạo Văn T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Trần Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu V số tiền 12.750.000 (mười hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

    Buộc bị cáo Thạch Đạo Văn T có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản cho bà Nguyễn Hồng L số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)

    Kể từ ngày anh Đ g, chị V, bà L có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Thạch Đạo Văn T chậm thi hành án đối với khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy đối với chiếc đèn pin mà bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội.
    • + Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xr có gắn sim số 0358.849401 mà bị cáo sử dụng để lên mạng xã hội tiêu thụ tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 12 Pro trộm cắp của anh Đ, chị V.
    • (Vật chứng đang được lưu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Thạch Đạo Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 887.500 đồng (tám trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng) án phí DSST.
  5. Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND tỉnh, VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Và Kíu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/HSST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 178/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch Đạo Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger