|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày: 18/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Nam
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Vũ Ngọc Hoà
- 2. Ông Trịnh Tiến Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga – Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Hương Giang uoươHu – Kiểm sát viên.
Ngày 18/7/2024, tại Điểm cầu trung tâm – Phòng xét xử trực tuyến tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần – Phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2024/HSST ngày 24 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST-HS ngày 02/07/2024 đối với bị cáo:
LÊ THỊ PHƯƠNG
– Sinh năm: 1967; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
Địa chỉ thường trú: Số B, Tổ A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lê Văn B (đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị T; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ 06; Chồng là: Nguyễn Tuấn H (đã chết); Có 02 con, con lớn sinh năm: 1987, con nhỏ sinh năm: 1995; D chỉ bản số: 194 lập ngày 04/04/2024 do Công an quận H cung cấp.
Tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị bắt quả tang về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy ngày 26/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/03/2024, tại khu vực trước cửa nhà số A phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội, Tổ công tác Công an phường C đang làm nhiệm vụ phát hiện Lê Thị P có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, P tự nguyện giao nộp từ túi quần bên trái phía trước P đang mặc 01 (một) túi nilong kích thước (7x11) cm, bên trong có chứa 09 (chín) gói nilong, trong đó gồm có: 05 (năm) gói nilong màu vàng đều có kích thước khoảng (1x1,5) cm, bên trong chứa chất bột màu trắng; 02 (hai) gói nilong màu xanh đều có kích thước khoảng (1x1,5) cm bên trong chứa chất bột màu trắng; 02 (hai) gói nilong màu hồng đều có kích thước khoảng (1x1,5) cm bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, P khai nhận chất bột màu trắng trong các gói nilong là ma túy Heroine, P mang đi bán cho khách. Nếu bán thành công toàn bộ số ma túy trên, P sẽ được hưởng lợi số tiền 400.000 đồng. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của P 200.000 đồng tiền mặt. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa P về trụ sở Cơ quan công an để điều tra, làm rõ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận H đã ra Quyết định số 1411 ngày 26/03/2024 trưng cầu giám định số ma túy đã thu giữ của Lê Thị P.
Tại bản Kết luận giám định số 2381/KLGĐ-PC09 ngày 04/04/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng đựng bên trong 09 gói nilong (trong đó 05 gói nilong màu vàng, 02 gói nilon màu xanh và 02 gói nilong màu hồng) là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,080 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị P khai nhận: Do bản thân không có công ăn việc làm nên P đã nảy sinh ý định đi mua ma túy Heroine về để bán kiếm lời. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 26/03/2024, Lê Thị P đi bộ lang thang đến khu vực đầu ngõ C phố L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, P gặp và mua 10 (mười) gói ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 1.600.000 đồng. Sau đó, P cất số ma túy vừa mua được vào túi quần bên trái phía trước P đang mặc rồi đi bộ lang thang để tìm người mua ma túy. P dự định sẽ bán mỗi gói ma túy với giá 200.000 đồng nhằm hưởng lợi 40.000 đồng.
Đến 08 giờ 15 phút cùng ngày, tại khu vực trước cửa số nhà B phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội, P bán 01 (một) gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng cho một người đàn ông không quen biết. Sau đó, P tiếp tục đi lang thang tìm khách mua ma túy. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, khi P đi đến khu vực trước cửa số nhà A phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ như trên. Nếu bán thành công toàn bộ số ma túy trên, P sẽ được hưởng lợi 400.000 đồng. Lời khai của Lê Thị P phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Thị P: P khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên không thể cung cấp cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải P xác định địa điểm mua ma túy và người đàn ông đã bán ma túy cho P. Kết quả: P xác định được địa điểm mua ma túy là tại khu vực đầu ngõ C phố L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã bán ma túy cho P, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đối với người đàn ông mua ma túy của Lê Thị P, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải P xác định địa điểm và người đàn ông này. Kết quả: Phương xác định được vị trí gặp người đàn ông này là tại khu vực trước cửa số nhà B phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã mua ma túy của P. P khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để tiếp tục xác minh, xử lý.
Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lê Thị P. Đây là tiền Phương hưởng lợi từ hành vi Mua bán trái phép chất ma túy mà có.
Tại bản Cáo trạng số 159/CT-VKS-HBT ngày 17 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Thị P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng giữ quan điểm truy tố với Lê Thị P như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 36 đến 42 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; Tịch thu tiêu huỷ chất bột màu trắng đựng bên trong 09 gói nilong là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,080 gam; Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy mà có.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, bằng vật chứng thu giữ của bị cáo, qua giám định là 1,080 gam ma túy loại Heroine cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Thị P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Ma túy là chất gây nghiện làm huỷ hoại sức khoẻ con người, làm xói mòn đạo đức xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra các tội phạm hình sự khác, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh an toàn, trật tự xã hội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Khi áp dụng hình phạt, Hội đồng xét xử đã xem xét: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; đây là lần đầu tiên bị cáo bị đưa ra truy tố, xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ chất bột màu trắng đựng bên trong 09 gói nilong (trong đó 05 gói nilong màu vàng, 02 gói nilon màu xanh và 02 gói nilong màu hồng) là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,080 gam thu giữ của bị cáo là chất gây nghiện bị cấm lưu hành theo quy định pháp luật.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng thu giữ của bị cáo là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy mà có theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Thị P: P không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra đã dẫn giải P đi xác định địa điểm mua ma túy và người đàn ông bán ma túy cho P, P xác định được địa điểm mua ma túy tại khu vực đầu ngõ C phố L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông bán ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với người đàn ông mua ma túy của Lê Thị P: Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải P xác định địa điểm bán ma túy và người đàn ông đã mua ma túy của P, P xác định được địa điểm bán ma túy là tại khu vực trước cửa số nhà B phố B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội nhưng không xác định được người đàn ông đã mua ma túy của P, P khai không rõ nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt: Lê Thị P 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ 1,080 gam ma tuý loại Heroine trong 01 bì giấy còn nguyên vẹn niêm phong bên trong; bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và bị cáo Lê Thị P;
- + Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo.
Tang vật trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 14/6/2024, tang vật số 203/24 giữa Công an quận H và Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước quận H.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Lê Thị P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Hoàng Nam |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ph - Mua bán trái phép chất ma tuý
