|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/HSPT
Ngày 26 - 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Kiều Lương |
| Các Thẩm phán: | Bà Hà Thị Thanh Nữ |
| Bà Lê Thị Ký |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Minh T cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXX - PTHS ngày 21/03/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số:102/2024/HDPT-QĐ ngày 10/4/2024.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Minh T; Sinh năm 1989, tại Bến Tre;
Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đoàn thể, giáo phái: Đảng viên; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1967 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; có vợ: Chu Thị T2, sinh năm 1991; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 04/8/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2023 cho đến nay tại thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt).
- Họ và tên: Trần Văn Tuấn E; Sinh năm 1974, tại Đồng Nai;
Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: Lớp 2/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L, sinh năm 1951 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1953, có vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1980; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2007;
Tiền án, Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 04/8/2023 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/8/2023 cho đến nay tại thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Bị cáo có mặt).
Trong vụ án này còn có bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nội dung chính: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/8/2023 Lê Hữu H1, Trần Đình H2, Lê Thanh T3, Trần Văn T4 Em đến quán cà phê “Sakê” thuộc ấp S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Minh T tổ chức ăn nhậu. Đến 14 giờ 30 phút thì rủ nhau tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức “Binh xập xám”. T là người cung cấp 02 bộ bài tây 52 lá cho các bị cáo đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi H1, H2, T4 và Tuấn E đang tham gia đánh bạc thì cùng ngày bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang, riêng Lê Thanh T3 bỏ trốn khỏi hiện trường, đến ngày 06/8/2023 Lê Thanh T3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú.
- - Bị cáo Trần Văn Tuấn E sử dụng số tiền 23.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đã thua số tiền 3.900.000 đồng, còn lại 19.100.000đ (mười chín triệu một trăm nghìn đồng).
- - Bị cáo Lê Thanh T3 sử dụng số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng nhưng không rõ bao nhiêu, khi bỏ chạy T3 đã để lại số tiền tại chiếu bạc.
- - Bị cáo Trần Đình H2 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc đã thua số tiền 1.500.000 đồng, còn lại 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) để trên chiếu bạc.
- - Bị cáo Lê Hữu H1 sử dụng số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng được số tiền 1.200.000 đồng, thu giữ trong người 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
- Vật chứng và xử lý vật chứng: Số tiền 30.800.000 đồng (gồm 21.800.000 đồng thu trên chiếu bạc, 5.800.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Trần Văn T4 Em, 2.500.000 đồng thu giữ trong người bị cáo Lê Hữu H1, 700.000 tiền xâu thu giữ trong ống lon sắt.
- - 01 ống lon sắt, 02 bộ bài tây (loại 52 lá) đã qua sử dụng; 01 tấm vải màu đỏ có in hình các bông hoa kích thước 1m x 1m; 15 bộ bài tây (loại 52 lá chưa sử dụng).
- Quyết định của câp sơ thẩm: Tại Bản án số 117/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 04/8/2023 về tội “Gá bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 Em 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 04/8/2023 về tội “Đánh bạc”.
- Kháng cáo Kháng nghị: Ngày 04/12/2023 và ngày 12/12/2023 các Nguyễn Minh T và Trần Văn T4 Em có đơn kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn.
Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc như sau:
Hình thức đánh bài binh xập xám như sau: Các bị cáo sử dụng 01 bộ bài tây 52 lá chia làm 04 tụ cho bốn người chơi, mỗi người 13 lá, người chơi xếp bài thành 03 chi, hai chi 05 lá bài và một chi 03 lá bài, sau đó so sánh từng chi với người làm cái để xác định thắng thua. Về cách thức tính thắng thua của mỗi ván như sau: Sau khi người làm cái chia bài, người chơi tham gia đặt cược từ 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) cho đến 1.000.000đ (một triệu đồng) cho mỗi ván, sau đó so sánh bài với người làm cái nếu ai thắng 02 chi thì coi như thắng, người chơi và cái sẽ chung tiền thắng thua cho nhau, mỗi người chơi sẽ làm cái một ván và xoay vòng nhau. Người chơi quy định bài tứ quý (4 lá bài cùng số), ba thùng (mỗi chi một chất), ba sảnh, thùng phá sảnh (5 lá bài liền kề cùng chất) hoặc bài sáu đôi sẽ tính là mậu binh, người có bài như trên sẽ thắng, nếu không có bài như trên người chơi sẽ xếp các chi theo ý của mỗi người sao cho chi bài đó phải lớn hơn chi của người cùng chơi khác, trong đó lá A sẽ tính là lớn nhất, lá số 2 tính nhỏ nhất, nếu bài của người chơi và bài của người làm cái có một chi giống nhau sẽ tính chi đó thắng cho người làm cái. Nếu người làm cái thắng cả ba người chơi thì phải bỏ ra số tiền 50.000 đồng hoặc 100.000 đồng là tiền xâu, bỏ vào lon sắt để đưa cho Nguyễn Minh T.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm về tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 322; Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 Em 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã nêu, do đó đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo Trần Văn T4 Em và Nguyễn Minh T cung cấp được một số tình tiết mới như cung cấp một đơn xác nhận bị cáo có là lao động chính trong gia đình, trong thời gian tại ngoại luôn chấp hành chính sách pháp luật tại địa phương, xét đây là chứng cứ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét trong quá trình nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm về tội “Gá bạc” theo khoản 1 Điều 322; xử phạt bị cáo Trần Văn T4 Em 08 (tám) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321; Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, sau khi kháng cáo các bị cáo bổ sung thêm các tình tiết, có xác nhận địa phương bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trong quá trình các bị cáo tại ngoại luôn chấp hành nghiêm chỉnh chính sách pháp luật, trong đó bị cáo Trần Văn T4 Em là người khuyết tật bẩm sinh (teo chân), vợ bị bệnh tim, có ông nội Trần Văn N1 tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo T có xác nhận địa phương và cung cấp giấy khen của Ủy ban huyện C từ năm 2011 đến 2018 có thành tích trong quá trình tham gia dân quân tự vệ của huyện, bị cáo ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới mà trong quá trình xét xử sơ thẩm các bị cáo chưa cung cấp để Tòa án cấp sơ thảm xem xét cho các bị cáo.
Từ những căn cứ trên xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bản thân các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định. Căn cứ theo nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao, các bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo chuyển hình phạt tù của hai bị cáo sang hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo phải chấp hành, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Minh T và Trần Văn Tuấn E, sửa Bản án sơ thẩm số 117/2023/HSST ngày 28/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 01 (một) năm tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- - Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 Em 08 (tám) tháng tù. Nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao hai bị cáo cáo Nguyễn Minh T và Trần Văn T4 Em cho Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Các bị cáo bị xét xử về tội “Gá bạc” và “Đánh bạc”
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Kiều Lương |
Bản án số 178/2024/HSPT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (gá bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 178/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gá bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/8/2023 Lê Hữu H, Trần Đình H, Lê Thanh T, Trần Văn Tuấn E đến quán cà phê “Sakê” thuộc ấp Suối Râm, thị trấn Long G, huyện Cẩm M, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Minh Tâm tổ chức ăn nhậu. Đến 14 giờ 30 phút thì rủ nhau tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức “Binh xập xám”. T là người cung cấp 02 bộ bài tây 52 lá cho các bị cáo đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi H, H, T và Tuấn E đang tham gia đánh bạc thì cùng ngày bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang, riêng Lê Thanh T bỏ trốn khỏi hiện trường, đến ngày 06/8/2023 Lê Thanh T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm M đầu thú.
