|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 178/2024/HS-ST Ngày: 18/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Thảo.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Long Văn Thanh.
2. Ông Đoàn Văn Hộ.
Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 266/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Triệu Thị N; Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1973 tại Thành phố C; Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Triệu Phúc H và bà: Hoàng Thị L (đều đã chết); Chồng: Nông Văn S (sinh năm 1972, đã ly hôn); Con: có một con sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh tại phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 09/7/2024 đến nay. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 172a/2024/HSST-CĐKNCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 172a/QĐ-TA ngày 07/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
- Bị hại:
Hoàng Văn P - sinh năm 1960;
Địa chỉ: Xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Vũ Hồng K - sinh năm 1980;
Địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
2. Đàm Thị L1 - sinh năm 1964;
Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
3. Lục Tiến C - sinh năm 1988;
Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 17/5/2024, Công an xã H, thành phố C nhận được đơn tố cáo của Hoàng Văn P (Sinh năm 1960; trú tại xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) về việc: Ngày 06/4/2024, P cho Triệu Thị N (Sinh năm 1973; trú tại tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát: 11X1 - 062.84 và Giấy đăng ký xe mang tên Hoàng Văn P. Sau đó khoảng một tuần, P liên lạc với N để lấy lại xe nhưng N đã mang xe đi cầm đồ. Xác minh ban đầu nhận thấy có dấu hiệu tội phạm, ngày 20/5/2024 Công an xã H, thành phố C đã chuyển hồ sơ tố giác đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng để giải quyết theo thẩm quyền.
Cơ quan điều tra Công an thành phố C đã tiếp nhận hồ sơ vụ việc và tiến hành xác minh, tạm giữ của Vũ Hồng K (sinh năm 1980; trú tại tổ G, phường N, thành phố C) 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, biển kiểm soát 11X1 - 062.84; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002231 mang tên Hoàng Văn P.
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Triệu Thị N và Hoàng Văn P có quan hệ tình cảm từ tháng 11/2023. Trong quá trình quen biết, do không có phương tiện đi lại nên đã nhiều lần N mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 11X1 - 062.84 của P và đều trả đúng hẹn. Khoảng tháng 03/2024, N hỏi mượn xe của P để đi lại, P giao xe và giấy đăng ký xe mang tên Hoàng Văn P cho N sử dụng. Đến ngày 31/3/2024, do cần tiền để trả nợ nên N đã tự ý lấy xe của P đi cầm đồ tại Cửa hàng C1 có địa chỉ tại tổ A, phường S, thành phố C do Đàm Thị L1 (sinh năm 1964; trú tại tổ A, phường S, thành phố C) làm chủ. Khi đến cầm xe, N gặp người quản lý cửa hàng là Lục Tiến C (sinh năm 1980; trú tại tổ A, phường S, thành phố C). N nói với C đây là xe của N mua lại với cậu ruột nên không làm giấy tờ mua bán xe. Thấy có đăng ký xe nên C tin tưởng và đồng ý cầm cố chiếc xe với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Hai bên làm hợp đồng thỏa thuận trong thời hạn 10 ngày Ngần có quyền đến chuộc lại xe. Hết thời hạn theo hợp đồng cầm cố, C gọi điện thoại cho N và N nói không có tiền để chuộc lại xe nên C đã bán chiếc xe Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 11X1 - 062.84 cho Vũ Hồng K là chủ Cửa hàng mua bán xe máy cũ Xuân Thanh tại tổ G, phường N, thành phố C với số tiền 8.200.000đ (tám triệu hai trăm nghìn đồng). Sau khi cho mượn xe khoảng 10 ngày, P gọi điện thoại cho N để lấy lại xe thì N nói cho P biết đã mang xe đi cầm đồ và hứa sẽ đi làm kiếm tiền để chuộc lại xe cho P. Sau đó khoảng 5 ngày, P gọi điện bảo N đưa P đến Cửa hàng cầm đồ để chuộc lại xe nhưng do đã hết hạn chuộc lại xe theo hợp đồng nên chủ cửa hàng đã bán xe.
Ngày 28/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C có yêu cầu định giá tài sản số 903 để xác định giá trị tài sản Triệu Thị N đã chiếm đoạt. Tại kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát: 11X1 - 062.84 có giá trị là 5.166.666đ (năm triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Hành vi của Triệu Thị N đã bị cơ quan công an lập hồ sơ đề nghị truy cứu tránh nhiệm hình sự về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số: 162/CT-VKSTP ngày 09/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Triệu Thị N về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Triệu Thị N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí với bản kết luận định giá về giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 5.166.666đ (năm triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng). Bị cáo nhất trí trả lại cho bà Đàm Thị L1 số tiền đã cầm cố xe là 5.000.000đ (năm triệu đồng) .
Ý kiến của người bị hại ông Hoàng Văn P: Chiếc xe Honda Wave Alpha biển kiểm soát 11X1 - 062.84 là của ông mua năm 2023 với giá 22.000.000đ. Do có quan hệ tình cảm nên ông đã tin tưởng cho Triệu Thị N mượn. Khi mượn, N nói mượn xe vài ngày để đi lại phục vụ sinh hoạt rồi sẽ trả lại. Sau khi biết chiếc xe bị đem đi cầm, ông có bảo N đưa đi chuộc xe nhưng bị cáo viện nhiều lý do không đưa ông đến nơi cầm đồ nên ông đã làm đơn tố cáo. Ông yêu cầu giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đàm Thị L1: Bà là chủ cửa hàng cầm đồ Công Hương và là mẹ vợ của Lục Tiến C. Đối với việc kinh doanh cửa hàng, bà nhờ C trông coi, quản lý và làm việc với khách hàng. Mỗi khi khách hàng đến có nhu cầu vay tiền, cầm cố tài sản C sẽ hỏi ý kiến của bà, sau đó trực tiếp làm việc với khách hàng. Bà biết và đồng ý với việc C mua xe ngày 31/3/2024 và bán chiếc xe sau khi hết hạn hợp đồng cầm cố nhưng bán cho ai, giá bao nhiêu thì bà không biết. Bà yêu cầu Triệu Thị N phải trả lại số tiền 5.000.000đ cho bà. Đối với số tiền 8.200.000đ có được từ việc bán xe cho K: Bà và Lục Tiến C thỏa thuận C sẽ là người trả số tiền này cho K thay bà. Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lục Tiến C: Cửa hàng cầm đồ Công Hương do bà Đàm Thị L1 - mẹ vợ của anh đứng tên đăng ký kinh doanh từ năm 2019. Từ khi khai trương đến nay, bà L1 nhờ anh trông coi, quản lý và thay mặt bà L1 làm việc với khách hàng. Cuối tháng 3/2024, Triệu Thị N có đem 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 11X1 - 062.84 đến cửa hàng của anh để cầm và nói xe mua lại với họ hàng không làm giấy tờ mua bán nên anh đã tin tưởng nhận cầm đồ chiếc xe trên với giá 5.000.000₫ (số tiền này đề nghị bị cáo trả lại cho chủ cửa hàng là bà L1). Sau khi quá hạn không thấy N đến chuộc, anh đã bán xe cho anh Vũ Hồng K - chủ cửa hàng X với giá 8.200.000đ. Đề nghị bị cáo trả lại số tiền 5.000.000₫ cho chủ cửa hàng là bà L1. Đối với số tiền 8.200.000đ, anh và bà L1 đã tự nguyện thỏa thuận, anh nhất trí là người trả cho anh K số tiền này.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Vũ Hồng K: Anh là chủ cửa hàng X. Ngày 27/4/2024 Lục Tiến C có mang chiếc xe Honda Wave Alpha biển kiểm soát 11X1 - 062.84, kèm theo một giấy đăng ký xe máy mang tên Hoàng Văn P đến bán. Khi bán, C không nói nên anh cũng không biết nguồn gốc chiếc xe này. Sau khi kiểm tra xe, anh đã đồng ý mua chiếc xe với số tiền 8.200.000đ. Anh yêu cầu người có trách nhiệm trong vụ việc phải bồi thường cho anh số tiền trên, ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Triệu Thị N phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, xử phạt bị cáo Triệu Thị N từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về xử lý vật chứng: không có. Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đàm Thị L1 số tiền 5.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị L1 và anh Lục Tiến C: Anh C sẽ là người trả số tiền 8.200.000đ cho anh Vũ Công K1.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo kiếm tiền trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại ông Hoàng Văn P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Xét thấy, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đã tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng của Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; việc xét xử vụ án vắng mặt bị hại không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Trong tháng 3/2024, Triệu Thị N mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát: 11X1 - 062.84 của Hoàng Văn P để đi lại. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 31/3/2024 Triệu Thị N đã mang chiếc xe mô tô mượn của P đi cầm cố tại Cửa hàng C1 có địa chỉ tại phường S, thành phố C được số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Toàn bộ số tiền có được từ việc cầm cố, Triệu Thị N đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát 11X1 - 062.84 Triệu Thị N chiếm đoạt có giá trị 5.166.666đ (năm triệu một trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo phải bồi thường cho người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đàm Thị L1 số tiền 5.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị L1 và anh Lục Tiến C: Anh C tự nguyện là người sẽ trả số tiền 8.200.000đ cho anh Vũ Công K1.
[5] Về hình phạt chính:
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật và tỏ thái độ ăn năn, hối hận; có nơi thường trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, để bị cáo cải tạo tại cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xét thấy việc trả lại tài sản không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án, ngày 28/8/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm sát: 11X1 - 062.84 đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe mô tô cho Hoàng Văn P là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác:
[8.1.] Đối với Đàm Thị L1 là chủ cửa hiệu cầm đồ Công Hương đã nhận cầm cố tài sản không chính chủ mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của chủ sở hữu, vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 7.500.000đ (bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với Vũ Hồng K là người mua chiếc xe mô tô trên với Lục Tiến C. Khi mua, K không biết về nguồn gốc chiếc xe, do đó cơ quan điều tra Công an thành phố C xử lý đối với K là có căn cứ.
[8.2.] Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thị N phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt: Bị cáo Triệu Thị N 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 353, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đàm Thị L1 (sinh năm 1964; Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng).
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đàm Thị L1 và anh Lục Tiến C: Anh Lục Tiến C (sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) sẽ là người trả số tiền 8.200.000₫ (Tám triệu hai trăm nghìn đồng) cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Vũ Công K1 (sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ G, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Triệu Thị N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước. Tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hương Thảo |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: rong tháng 3/2024, Triệu Thị N mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đỏ, đen, bạc, biển kiểm soát: 11X1 - 062.84 của Hoàng Văn P để đi lại. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên ngày 31/3/2024 Triệu Thị N đã mang chiếc xe mô tô mượn của P đi cầm cố tại Cửa hàng C1 có địa chỉ tại phường S, thành phố C được số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Toàn bộ số tiền có được từ việc cầm cố, Triệu Thị N đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
