|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 178/2024/HS-ST
Ngày: 09/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Lan Chi
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Minh Hoa
Bà Đỗ Hảo Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh – Thư ký Toà án nhân dân quận Cầu Giấy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN HỮU T1 - Sinh năm: 1995; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Địa chỉ ĐKHKTT: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Nguyễn Hữu K; Họ tên mẹ: Hoàng Thị H; D chỉ bản số 121 lập ngày 22/3/2024 tại Công an quận C, thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự:
- Bản án số 146/2022/HS-ST ngày 24/5/2022, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 18/8/2023. (Chưa được xóa án tích).
- Bản án số 140/2024/HS-ST ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 11 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật).
Nhân thân: Bản án sơ thẩm số 159/2018/HS-ST ngày 02/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Bản án phúc thẩm số 10/2019/HS-PT ngày 29/01/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Ra trại ngày 09/9/2019 (Đã được xóa án tích).
Bị cáo bị Công an quận Đ bắt tạm giữ ngày 18/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thanh phố H1. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bị hại:
- Văn phòng đại diện Công ty S tại thành phố Hà Nội; Trụ sở: Số A phố M, tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Người đứng đầu Văn phòng đại diện: Ông GO DONGHAN – Trưởng đại diện; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Hoàng A – Nhân viên. (Vắng mặt)
- Công ty TNHH P; Trụ sở: Số A, ngách C phố P, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Đình Q – Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quyết T – Nhân viên. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L – Sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm, Nguyễn Hữu T1 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu sài. Để thực hiện ý định trên, T1 lên mạng xã hội mua 01 kìm thủy lực và 01 bộ dây dù. Trong thời gian từ ngày 11/11/2023 đến ngày 02/12/2023, T1 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Tối ngày 11/11/2023, T1 thuê phòng 402 tại nhà nghỉ S1, ngõ A T, T, Cầu G, Hà Nội của anh Tăng Văn T2 (SN: 1973, HKTT: N, K, Hà Nam). Đến khoảng 03h30' ngày 12/11/2023, T1 mang theo kìm, dây dù đi ra khỏi phòng, thấy cửa hành lang nhà nghỉ không khóa, T1 mở cửa đi lên tầng tum rồi trèo ra ngoài từ tầng tum, men theo mái nhà bên cạnh để tìm nhà có sở hở. Khi trèo ra ngoài căn nhà hướng ra phố M, T1 thấy nhà số A M, T, Cầu G, Hà Nội (là trụ sở của Công ty S) có ô cửa sổ sát cầu thang đang mở. T1 trèo lại gần, dùng kìm cắt song sắt cửa sổ rồi đột nhập vào trong. Sau đó, T1 đi thang bộ, lục lọi trong nhà thì lấy được 04 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell ở bàn làm việc trong phòng tầng 3, 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell ở bàn làm việc trong phòng tầng 4, 02 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell ở bàn làm việc trong phòng tầng 5 và số tiền 1.000.000 đồng bên trong ngăn kéo bàn làm việc trong phòng tầng 5 (đều là tài sản của Công ty S). Sau đó, T1 cất số tài sản trên vào túi xách rồi trèo ra ngoài theo lối cũ về phòng nghỉ. Sáng ngày 12/11/2023, T1 trả phòng rồi mang 07 máy tính đi bán cho 01 người không quen biết ở khu vực phố T được 14.000.000 đồng. T1 đã sử dụng số tiền trên cùng 1.000.000 đồng trộm cắp được để chi tiêu cá nhân; giữ lại 01 máy tính Dell màu bạc.
Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 01 (Một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro 5510 core i5 màu ghi xám đã qua sử dụng trị giá: 14.630.000 đồng; 01 (Một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Inspiron 16-5620 core i5 ram 8G màu bạc đã qua sử dụng trị giá 16.640.000 đồng. Tổng cộng trị giá: 31.270.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 219/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C kết luận: 03(Ba) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Latitude E5440 - Core i5, R8GB, SSD120GB đã qua sử dụng trị giá: 10.950.000 đồng; 03 (Ba) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Inspiron Core i3, 353715-4200LI/4G/500G/VGA1G đã qua sử dụng trị giá 9.810.000 đồng. Tổng cộng trị giá: 20.760.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là: 52.030.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng ngày 02/12/2023, T1 đến thuê phòng tại nhà nghỉ S1, ngõ A T, T, Cầu G, Hà Nội. Sau đó, cũng bằng thủ đoạn nêu trên, T1 trèo vào tầng thượng nhà số A ngách A ngõ A T, Cầu G, Hà Nội (là trụ sở Công ty TNHH P) để trộm cắp tài sản. Khoảng 02h40' ngày 03/12/2023, T1 đi từ tầng 4 xuống tầng 1 tìm và lấy được 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu PIPO W10 trên phòng làm việc tầng 2, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc trong ngăn tủ bàn làm việc và số tiền 1.000.000 đồng trong khay giấy ở ngăn thứ hai tủ tầng 1 (đều là tài sản của Công ty P). Sau đó, T1 mang theo toàn bộ số tài sản trên rồi trèo ra ngoài theo đường cũ. T1 sử dụng số tiền 1.000.000 đồng trên để chi tiêu cá nhân, giữ lại 02 chiếc máy tính.
Đến ngày 18/12/2023, Nguyễn Hữu T1 bị Công an quận Đ bắt giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ tạm giữ của Nguyễn Hữu T1:
- 01 kìm thủy lực màu đỏ đen, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 16 5620 màu bạc, 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu PIPO W10, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc (đã bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C).
Kết luận định giá tài sản số 322/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ kết luận: 01 (Một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion 15 inch, Ram 8GB, màu bạc, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 8.250.000 đồng; 01 (Một) máy tính bảng nhãn hiệu PIPO W10, màu xanh đen, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 2.750.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 11.000.000 đồng.
Tiến hành thực nghiệm điều tra, Nguyễn Hữu T1 xác nhận vị trí tài sản đã lấy trộm, cách thức đột nhập như nội dung đã nêu trên.
Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu T1 về hành vi Trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 173 BLHS.
Ngày 27/5/2024, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm, xử phạt Nguyễn Hữu T1 11 năm tù; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H1.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu T1 khai nhận hành vi như nội dung đã nêu trên. Lời khai của Nguyễn Hữu T1 phù hợp với lời khai bị hại, tang vật thu giữ và tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Đối với Tăng Văn T3, người đại diện nhà nghỉ S1 hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, có đầy đủ giấy tờ pháp lý. Việc Nguyễn Hữu T1 thuê phòng nghỉ qua đêm tại nhà nghỉ S1 ngày 11/11/2023 và ngày 02/12/2023, nhà nghỉ S1 đã vào sổ sách đầy đủ và không biết việc T1 thuê phòng nghỉ qua đêm để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý.
Đối với đối tượng đã mua 07 chiếc máy tính xách tay của Nguyễn Hữu T1: Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng chưa xác định được người mua, không rõ nhân thân lai lịch của đối tượng này, đã ra Quyết định truy tìm tang vật đối với 07 chiếc máy tính nhưng hiện chưa có kết quả. Ngày 21/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng này cùng 07 chiếc máy tính xách tay để điều tra xử lý sau.
Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- Đối với 01 chiếc kim thủy lực, qua điều tra xác định: Chiếc kìm trên là công cụ Nguyễn Hữu T1 sử dụng để đột nhập, trộm cắp tài sản.
- Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 16 5620 màu bạc, qua điều tra xác định chiếc máy tính trên là tài sản hợp pháp của Công ty S. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại tài sản cho đại diện theo ủy quyền của Công ty là chị Vũ Thị Hoàng A.
- Đối với 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu PIPO W10, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, qua điều tra xác định 02 chiếc máy tính trên là tài sản hợp pháp của Công ty P. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại tài sản cho đại diện theo ủy quyền của Công ty là anh Phạm Quyết T.
Về dân sự: Bà Hoàng Thị L là bác ruột của Nguyễn Hữu T1 đã bồi thường cho đại diện người bị hại. Chị Vũ Thị Hoàng A đã nhận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Anh Phạm Quyết T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường. Chị Vũ Thị Hoàng A và anh Phạm Quyết T không có yêu cầu gì khác về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Hữu T1.
Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKSCG ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Hữu T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận khoảng 3h30' ngày 12/11/2023, tại trụ sở Công ty S, địa chỉ: nhà số A M, T, Cầu G, Hà Nội, Nguyễn Hữu T1 đã có hành vi trộm cắp 08 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell và số tiền 1.000.000 đồng của Công ty S. Tổng trị giá tài sản là 53.030.000 đồng; Khoảng 2h40' ngày 03/12/2023, tại trụ sở Công ty TNHH P, địa chỉ: nhà số A ngách A ngõ A T, Cầu G, Hà Nội, Nguyễn Hữu T1 đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP, 01 máy tính bảng nhãn hiệu PIPO W10 và số tiền 1.000.000 đồng của Công ty P. Tổng trị giá tài sản là 12.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T1 đã trộm cắp là: 65.030.000 đồng
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị L giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình điều tra, bà là bác ruột của Nguyễn Hữu T1, bà L xác định đã tự nguyện thay mặt gia đình bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho đại diện những người bị hại, để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của T1 gây ra, bà L không yêu cầu T1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu đề nghị gì khác. Bà L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai phạm, làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Cầu Giấy giữ quan điểm truy tố với Nguyễn Hữu T1 như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng; Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 38 đến 44 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm thủy lực thu giữ của Nguyễn Hữu T1 đã sử dụng làm công cụ phạm tội; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, của người liên quan, người làm chứng, được chứng minh bằng vật chứng đã thu hồi trao trả cho người bị hại; Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 30/KL-HĐĐGTS ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, Kết luận định giá tài sản số 219/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C, Kết luận định giá tài sản số 322/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Đ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 3h30' ngày 12/11/2023, tại trụ sở Công ty S, địa chỉ: nhà số A M, T, Cầu G, Hà Nội, Nguyễn Hữu T1 đã có hành vi trộm cắp 08 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell và số tiền 1.000.000 đồng của Công ty S. Tổng trị giá tài sản là 53.030.000 đồng. Và khoảng 2h40' ngày 03/12/2023, tại trụ sở Công ty TNHH P, địa chỉ: nhà số A ngách A ngõ A T, Cầu G, Hà Nội, Nguyễn Hữu T1 đã có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP, 01 máy tính bảng nhãn hiệu PIPO W10 và số tiền 1.000.000 đồng của Công ty P. Tổng trị giá tài sản là 12.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T1 đã trộm cắp là: 65.030.000 đồng.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm Luật hình sự, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng bất bình trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo có ý định, mục đích trộm cắp tài sản từ trước, chuẩn bị công cụ để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã chiếm đoạt nhiều tài sản của các bị hại, tổng số tiền chiếm đoạt tài sản tương đối lớn, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó việc truy tố và xét xử đối với bị cáo là rất cần thiết, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, năm 2018 bị xét xử về tội Cưỡng đoạt tài sản, các năm 2022, 2024 bị xét xử về cùng loại tội Trộm cắp tài sản, tiền án năm 2018 đã được xóa án tích, tiền án năm 2022 chưa được xóa án tích, tiền án năm 2024 bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Như vậy bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục cũng như áp dụng chính sách hình sự của Nhà nước đối với các loại tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, song bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Chứng tỏ ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là rất kém. Do đó cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với bị cáo, để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 12/11/2023 và ngày 03/12/2023; Bị cáo có tiền án năm 2022 chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, người bị hại đã nhận bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và nguồn thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kìm thủy lực đã thu giữ của bị cáo, bị cáo đã sử dụng làm công cụ để đột nhập, trộm cắp tài sản.
[7] Truy thu số tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, gồm:
- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu) đồng bị cáo đã trộm cắp ngày 11/11/2023 của Công ty S.
- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu) đồng bị cáo đã trộm cắp ngày 11/11/2023 của Công ty P.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 16 5620 màu bạc, quá trình điều tra xác định chiếc máy tính trên là tài sản hợp pháp của Công ty S. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại tài sản cho đại diện theo ủy quyền của Công ty là chị Vũ Thị Hoàng A. Chị Vũ Thị Hoàng A đã nhận bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét.
Đối với 01 máy tính bảng màu đen nhãn hiệu PIPO W10, 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP Pavilion màu bạc, quá trình điều tra xác định 02 chiếc máy tính trên là tài sản hợp pháp của Công ty P. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả lại tài sản cho đại diện theo ủy quyền của Công ty là anh Phạm Quyết T. Anh Phạm Quyết T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét.
Bà Hoàng Thị L là bác ruột của bị cáo Nguyễn Hữu T1 đã tự nguyện thay mặt gia đình bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho đại diện người bị hại để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của T1 gây ra, bà L không yêu cầu T1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đối với Tăng Văn T3, người đại diện nhà nghỉ S1 hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, có đầy đủ giấy tờ pháp lý. Việc Nguyễn Hữu T1 thuê phòng nghỉ qua đêm tại nhà nghỉ S1 ngày 11/11/2023 và ngày 02/12/2023, nhà nghỉ S1 đã vào sổ sách đầy đủ và không biết việc T1 thuê phòng nghỉ qua đêm để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Đối với đối tượng đã mua 07 chiếc máy tính xách tay của Nguyễn Hữu T1: Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng chưa xác định được người mua, không rõ nhân thân lai lịch của đối tượng này, đã ra Quyết định truy tìm tang vật đối với 07 chiếc máy tính nhưng hiện chưa có kết quả. Ngày 21/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng này cùng 07 chiếc máy tính xách tay để điều tra xử lý sau. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu T1 38 (Ba mươi tám) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc kìm thủy lực màu đỏ đen đã qua sử dụng đã thu giữ của bị cáo.
Vật chứng trên hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 220/GN/THA-CA ngày 08/8/2024 giữa Công an quận C và Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
4. Truy thu số tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, gồm:
- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu) đồng bị cáo đã trộm cắp ngày 11/11/2023 của Công ty S.
- Số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu) đồng bị cáo đã trộm cắp ngày 11/11/2023 của Công ty P.
5. Về trách nhiệm dân sự:
Chị Vũ Thị Hoàng A đại diện theo ủy quyền của Công ty S đã nhận lại tài sản, đã nhận bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Phạm Quyết T đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hoàng Thị L là bác ruột của bị cáo Nguyễn Hữu T1 đã tự nguyện thay mặt gia đình bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng cho đại diện người bị hại để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của T1 gây ra, bà L không yêu cầu T1 phải trả lại bà số tiền này, không có yêu cầu gì khác. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
6. Đối với Tăng Văn T3, người đại diện nhà nghỉ S1 hoạt động kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, có đầy đủ giấy tờ pháp lý. Việc Nguyễn Hữu T1 thuê phòng nghỉ qua đêm tại nhà nghỉ S1 ngày 11/11/2023 và ngày 02/12/2023, nhà nghỉ S1 đã vào sổ sách đầy đủ và không biết việc T1 thuê phòng nghỉ qua đêm để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
7. Đối với đối tượng đã mua 07 chiếc máy tính xách tay của Nguyễn Hữu T1: Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng chưa xác định được người mua, không rõ nhân thân lai lịch của đối tượng này, đã ra Quyết định truy tìm tang vật đối với 07 chiếc máy tính nhưng hiện chưa có kết quả. Ngày 21/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận C đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến đối tượng này cùng 07 chiếc máy tính xách tay để điều tra xử lý sau. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
8. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 1 phần I Mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: Bị cáo Nguyễn Hữu T1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
9. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện theo ủy quyền của những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về phần Bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Hoàng Lan Chi |
Bản án số 178/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 178/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu Tùng 38 (Ba mươi tám) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
