|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 7 – 2024 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Nhiêu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Hoàng Khởi
Bà Đoàn Thị Bẩy
Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Chưởng - Là Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 231/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trung N. Sinh năm 1997. Địa chỉ cư trú: Ấp 20, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Có mặt.
Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Thùy D. Sinh năm 2000. Địa chỉ cư trú: Số 110, Q, khóm 7, phường R, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh Nguyễn Trung N trình bày và xác định yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Anh và chị Huỳnh Thị Thùy D tự nguyện kết hôn vào ngày 27/7/2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vào khoảng năm 2020 anh phát hiện chị D có nhắn tin tình cảm với người đàn ông khác. Từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi. Sự việc giữa vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng cũng đã ly thân nhau từ năm 2021 đến nay. Hiện anh xác định không còn tình cảm, không thể chung sống được nữa với chị D nên yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn với chị Huỳnh Thị Thùy D.
Về con chung: Có một người con tên Nguyễn Trọng Vinh, sinh ngày 30/5/2016, hiện con đang sống cùng anh N. Khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn là chị Huỳnh Thị Thùy D: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để chị biết tham gia tố tụng tại vụ án nhưng chị D đều vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của chị đối với yêu cầu của anh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Huỳnh Thị Thùy D đến để tham gia các phiên xét xử nhưng chị vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Anh N và chị D tự nguyện kết hôn vào ngày 27/7/2018 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 27/7/2018) đúng quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Anh N yêu cầu được ly hôn nên quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp được xác định là tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh N yêu cầu ly hôn với chị D vì cho rằng giữa hai vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị D có nhiều lần nhắn tin tình cảm với người đàn ông khác, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Hiện tại anh N không còn tình cảm với chị D. Vợ chồng cũng đã ly thân nhau từ năm 2021 đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm đến nhau. Đối với chị D đã biết việc anh N xin ly hôn nhưng không tham gia các phiên họp hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình, không nộp các tài liệu, chứng cứ chứng minh để tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo như trình bày của anh N và chấp nhận cho anh N ly hôn với chị D.
[4] Về con chung: Có một người con chung tên Nguyễn Trọng Vinh, sinh ngày 30/5/2016 (giới tính: nam). Hiện cháu Vinh đang sống với anh N, khi ly hôn anh N yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Chị D không có ý kiến về yêu cầu này của anh N. Nguyện vọng của cháu Vinh là muốn sống cùng cha sau khi cha mẹ ly hôn. Thực tế con cũng đang sống cùng anh N, để tránh xáo trộn cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của cháu nên tiếp tục giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, anh N không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với chị D, đây là sự tự nguyện của anh N, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh N xác định không có. Chị D không tham gia các phiên họp hòa giải và phiên tòa xét xử, không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình và gửi các tài liệu kèm theo chứng minh về vấn đề này nên chấp nhận ý kiến của anh N.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình, anh N phải chịu theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Trung N ly hôn với chị Huỳnh Thị Thùy D.
-
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trọng V, sinh ngày 30/5/2016
cho anh Nguyễn Trung N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng
nuôi con đối với chị Huỳnh Thị Thùy D.
Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Trung N phải chịu 300.000đồng. Ngày 16/4/2024, anh N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0008431 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu nộp Ngân sách nhà nước toàn bộ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Nhiêu |
Bản án số 178/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 178/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/ Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Trung N ly hôn với chị Huỳnh Thị Thùy D. 2/ Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trọng V, sinh ngày 30/5/2016 cho anh Nguyễn Trung N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với chị Huỳnh Thị Thùy D. Anh D không trực tiếp nuôi con có quyền, N vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. 3/ Về tài sản chung: Không có. 4/ Về nợ chung: Không có. 5/ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Trung N phải chịu 300.000đồng. Ngày 16/4/2024, anh N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0008431 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu nộp Ngân sách nhà nước toàn bộ.
