Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 178/2024/DS-PT

Ngày: 08/5/2024

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang

Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Từ ngày 06 đến 08 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 506/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 605/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1951; cư trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1989; cư trú: B33 đường C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ (Văn bản ủy quyền 15/01/2023); có mặt.

  3. Bị đơn:
    1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966; cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Trương Ngọc S, sinh năm 1982; địa chỉ liên hệ: Số F - Phó C, Phường D, Tp., tỉnh Vĩnh Long (Giấy ủy quyền được chứng thực số 95, quyển số 01/2023 –SCT/CK,ĐC ngày 07/4/2023 tại Văn phòng C1); có mặt.

    3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956; cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.
    4. Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Đào Quang H1, sinh năm 1978; địa chỉ: A Tổ A, Khu V, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Lê Minh P, sinh năm 1977.
    2. Ông Lê Minh H2, sinh năm 1980.
    3. Bà Lê Thị Minh K, sinh năm 1982.
    4. Ông Lê Minh H3, sinh năm 1984.
    5. Ông Lê Minh S1, sinh năm 1987.
    6. Bà Nguyễn Thị S2, sinh năm 1966.
    7. Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 19555.

Cùng cư trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị C.

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Bà Bùi Thị C có đại diện ủy quyền trình bày: Vào năm 2005, bà Bùi Thị C và chồng là ông Lê Văn N1 (đã chết ngày 27/4/2016) có làm giấy bán đất cho ông Nguyễn Văn N một phần diện tích đất ngang 04m, dài hết thửa, khoảng 140m², loại đất CLN, tại thửa 1283 – tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp .. Hai bên mua bán có lập giấy tay, không ra chính quyền địa phương hay Văn phòng công chứng chứng thực. Giấy mua bán giao cho ông N cất giữ. Nội dung giấy bán đất không có ghi kích thước chiều ngang, chiều dài miếng đất. Giá mua bán đất là 7.000.000 đồng. Khi mua đất, gia đình ông N đã có căn nhà ở trên phần đất ngang 04m, nhưng cách nay khoảng mười mấy năm thì ông N có di dời căn nhà chính qua phần đất giáp phía nhà bà C và cất thêm mái chái phía giáp nhà ông Đ, nên mới có hiện trạng sử dụng như ngày nay.

Vào năm 2006, bà C và ông N1 có làm giấy bán đất cho ông Nguyễn Văn Đ một phần diện tích đất ngang 04m dài hết thửa, khoảng 140m², loại đất CLN tại thửa 1283 nói trên. Hai bên mua bán có lập giấy tay, nhưng do bên ông Đ cất giữ. Nội dung giấy bán đất hiện nay do phía ông Đ cung cấp có ghi chiều ngang 07m, dài 35m, là có thể do bên mua tự sửa số liệu. Giá mua bán đất là 8.000.000 đồng. Khi mua đất, gia đình ông Đ đã có căn nhà ở trên phần đất ngang 04m, nhưng cách nay khoảng mười mấy năm thì ông Đ có xây dựng lấn chiếm thêm qua phía giáp với nhà bà Lê Thị T1, nên mới có hiện trạng sử dụng như ngày nay.

Nay bà Bùi Thị C khởi kiện yêu cầu:

Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N đối với phần đất ngang 04 m x dài hết thửa tiếp giáp phần (C); đồng thời buộc ông N giao trả lại bà C phần đất còn lại ngang 4,15 m x dài hết thửa, trả bằng hiện vật. Các phần đất

này được thể hiện trên Bản trích đo địa chính Số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, thuộc thửa 1283, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ đối với phần đất ký hiệu (D) có diện tích 101,1m² (loại đất CLN); đồng thời buộc ông Đ giao trả lại bà C phần đất ký hiệu (C) có diện tích 70,0 m², trả bằng giá trị theo giá thị trường mà Hội đồng định giá xác định. Các phần đất này được thể hiện trên Bản trích đo địa chính Số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C, thuộc thửa 1283, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Bị đơn ông ông Nguyễn Văn N trình bày: Phần đất gia đình ông N hiện nay đang ở tại thửa 1283, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp .; có nguồn gốc trước năm 1975 do ông nội của ông Lê Văn N1 cho ông nội của ông N ở. Đến năm 2005, ông N có thương lượng mua lại để ổn định việc sử dụng sau này, nên hai bên có làm giấy tay “Tờ thỏa thuận chủ đất và người ở đất” ngày 07/10/2005, giao cho ông N giữ. Nội dung giấy bán đất không ghi chiều ngang, chiều dài là để khi nào đo đạc thực tế bao nhiêu thì tách bấy nhiêu. Hiện trạng sử dụng bề ngang từ trước đến nay cũng không thay đổi, chỉ có hoán đổi vị trí nhà chính với mái chái, chứ không có xây dựng cơi nới lấn chiếm gì thêm. Vì vậy, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông N không đồng ý. Đồng thời ông N có Đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho ông được quyền sử dụng phần đất đang sử dụng theo số liệu đo đạc thực tế, tương ứng là phần (A) và phần (B), có tổng cộng diện tích là 210,7 m², được thể hiện trên Bản trích đo địa chính Số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

Phía bị đơn ông Nguyễn Văn Đ có người đại diện theo ủy quyền là ông Trương Ngọc S trình bày:

Phần đất gia đình ông Đ hiện nay đang ở tại thửa 1283, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp .; có nguồn gốc trước năm 1975 do cha mẹ ông Lê Văn N1 cho cha mẹ ông Đ ở. Đến năm 2006, ông Đ có thương lượng mua lại để ổn định việc sử dụng sau này, nên hai bên có làm giấy tay: “Tờ bán đất” ngày 14/8/2006 giao cho ông Đ giữ. Nội dung giấy bán đất ghi chiều ngang 07 m, dài 35m. Trước đây, gia đình ông Đ còn sử dụng cả phần đất mé sông, nhưng nay chỉ còn sử dụng phần trên bờ tại vị trí căn nhà đang ở. Hiện trạng sử dụng từ trước đến nay ổn định, không có xây dựng cơi nới lấn chiếm gì thêm. Vì vậy, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Đ không đồng ý. Đồng thời ông Đ có Đơn phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận cho ông được quyền sử dụng phần đất đang sử dụng theo số liệu đo đạc thực tế, tương ứng là phần (C) và phần (D), có tổng cộng diện tích là 171,1 m², được thể hiện trên Bản trích đo địa chính Số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Lê Minh P, ông Lê Minh H2, bà Lê Thị Minh K, ông Lê Minh H3, ông Lê Minh S1 đều thống nhất theo trình bày và yêu cầu của phía bà C.

Bà Nguyễn Thị S2, bà Nguyễn Thị Cẩm T không có ý kiến gì.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại Bản án số 75/2023/DSST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn:
    • Công nhận ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng phần đất tranh chấp ký hiệu (C) và (D) có tổng diện tích là 171,1 m², loại đất CLN, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..
    • Công nhận ông Nguyễn Văn N được quyền sử dụng phần đất tranh chấp ký hiệu (A) và (B) có tổng diện tích là 210,7 m², loại đất CLN, tọa lạc tại Khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Vị trí, kích thước các phần đất (A), (B), (C) và (D) được thể hiện trên Bản trích đo địa chính số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T – thành phố Cần Thơ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “Q” 02375 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 18/9/2009 đứng tên ông Lê Văn N1 (đã chết), để cấp lại quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên và theo quy định pháp luật.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ, hợp tác với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định tài sản, tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt đã tuyên xử, nguyên đơn bà Bùi Thị C đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H trình bày: Thửa đất 1283 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1 (chồng bà C-nay đã mất).

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N thì nguyên đơn đồng ý công nhận cho ông N diện tích 101,4m² (vị trí B và một phần vị trí A theo bản trích đo). Phần còn lại 109,6m² ông N đã lấn chiếm của nguyên đơn thì ổn định cho ông N tiếp tục sử dụng. Ông N trả giá trị diện tích theo giá thị trường số tiền 360.684.644 đồng (thấp hơn giá do công ty thẩm định đưa ra là 4.007.000 đồng/m²). Do ông N sử dụng nhiều hơn phần diện tích chuyển nhượng do đó, buộc phải trả tiền thêm diện tích dôi dư.

Đối với ông Đ: Nguyên đơn không thừa nhận có chuyển nhượng cho ông Đ diện tích đất cũng chiều ngang là 4m nhưng ông Đ giữ giấy đã sửa lại thành 7m

ngang. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Đ trả thêm số tiền do sử dụng diện tích đất bị dôi dư.

Phía đại diện ủy quyền của ông N trình bày: Đất ông N nằm giữa đất của bà C và ông Đ, đã xây hàng rào nên không thể nào nói ông N cơi nới thêm. Tại thời điểm chuyển nhượng không ghi diện tích là do bị đơn ở từ trước năm 1975. Đến thời điểm chuyển nhượng thì giấy đất của nguyên đơn thế chấp ở ngân hàng nên không tách thửa được. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phía đại diện ủy quyền của ông Đ trình bày: Giấy thỏa thuận chuyển nhượng của ông Đ ghi chiều ngang 07 m và dài 35m. Phía bị đơn đã thanh toán tiền và vào ở từ trước khi chuyển nhượng. Bị đơn không sửa chữa lại tờ thỏa thuận. Nguyên đơn không yêu cầu thẩm định chữ ký chữ viết. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ y bản án sơ thẩm.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện vào ngày 07/10/2005 giữa ông N1 và bà C có lập “Tờ thỏa thuận chủ đất và người ở trên đất” với nội dung bán cho ông N phần đất cho gia đình ông N đang sử dụng với giá 7.000.000 đồng. Tương tự, vào ngày 14/8/2006 ông N1 và bà C có lập “Tờ bán đất”, với nội dung bán cho ông Đ phần đất gia đình ông Đ đang sử dụng với giá 8.000.000 đồng, giấy thỏa thuận do ông Đ và ông N giữ. Căn cứ theo bản trích đo địa chính thể hiện phần đất gia đình ông Đ đang sử dụng có diện tích là 171,1m²; phần của ông N qua đo đạc thực tế là 210,7m². Nguyên đơn cho rằng chỉ bán một phần đất chiều ngang 04m x dài hết thửa, phần dư ra buộc trả giá trị quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, thực tế phần đất của ông Đ và ông N đã xây nhà ở hơn 30 năm, nhưng phía nguyên đơn không ngăn cản và hiện trạng đất vẫn không có sự thay đổi. Hơn nữa, việc nguyên đơn cho rằng chỉ chuyển nhượng ngang 4m nhưng không có căn cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình. Ngoài ra, căn cứ theo nội dung “Tờ bán đất” ngày 14/8/2006 thể hiện ông N1 và bà C bán cho ông Đ phần đất bề ngang 07 m, dài 35 m, với giá 8.000.000 đồng. Nhưng qua đo đạc thực tế thì chiều ngang phần đất ông Đ sử dụng chỉ là 6,55 m. Do đó, cấp sơ thẩm công nhận theo diện tích ở thực tế của các bị đơn và bác đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Nguyên đơn không thừa nhận diện tích ghi trong Tờ mua bán nhưng không yêu cầu giám định và không có người làm chứng xác định việc chuyển nhượng 04m. Nguyên đơn cho rằng ông N1 là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có ý kiến về việc các bị đơn xây nhà không đúng diện tích là 04m. Nay chỉ một mình bà C cho rằng chỉ chuyển nhượng 04m là không phù hợp.

Từ những phân tích như trên, xét thấy kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu buộc các bị đơn trả giá trị phần đất chênh lệch là không có căn cứ để chấp nhận.

Đề xuất áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 75/2023/DS-ST ngày 11/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo hướng không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu một quan hệ pháp luật. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung thêm cho đầy đủ. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 3, Khoản 9, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng quy định. Những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của các bị đơn nhận thấy: Bà Bùi Thị C và chồng là ông Lê Văn N1 (đã chết ngày 27/4/2016) có làm giấy bán đất cho ông Nguyễn Văn N một phần đất không để diện tích với giá là 7.000.000 đồng. Khi mua đất, gia đình ông N đã có căn nhà ở trên phần đất ngang 04m, nhưng sau đó thì ông N có di dời căn nhà chính qua phần đất giáp phía nhà bà C và cất thêm mái chái phía giáp nhà ông Đ, nên mới có hiện trạng sử dụng như ngày nay. Đối với ông Đ thì vào năm 2006, bà C và ông N1 có làm giấy bán đất cho ông Nguyễn Văn Đ một phần diện tích đất ngang 04m dài hết thửa, giấy mua bán ông Đ giữ nên ghi thêm chiều ngang 7m. Giá mua bán đất là 8.000.000 đồng. Khi mua đất, gia đình ông Đ đã có căn nhà ở trên phần đất ngang 04m, nhưng sau đó thì ông Đ có xây dựng lấn chiếm thêm qua phía giáp với nhà bà Lê Thị T1, nên mới có hiện trạng sử dụng như ngày nay. Bà C kiện yêu cầu các bị đơn phải trả theo giá thị trường phần đất nằm ngoài diện tích chuyển nhượng. Các bị đơn không đồng ý và có đơn phản tố yêu cầu công nhận phần diện tích đất đang sử dụng.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Đối với phần ông Nguyễn Văn N: Căn cứ theo tờ: “Tờ thỏa thuận chủ đất và người ở đất” ngày 07/10/2005 thì thể hiện: ông N1 (bên nguyên đơn) có để cho ông N sử dụng diện tích đất không để chiều ngang và chiều dài, không để diện tích bao nhiêu với giá là 7.000.000 đồng. Phía bị đơn cho rằng chuyển nhượng diện tích đất với diện tích ngang 07m và dài 35m nhưng không có chứng cứ chứng minh diện tích đất. Nguyên đơn thì thừa nhận ông N chuyển nhượng diện tích ngang 04m và dài hết đất. Do bị đơn không chứng minh được diện tích đất chuyển nhượng nên căn cứ theo lời thừa nhận của nguyên đơn làm cơ sở.

Căn cứ theo chứng thư thẩm định giá của Công ty Cổ phần T2 thì giá đất tại vị trí tranh chấp là vị trí A và B có giá là 4.007.000 đồng/m² . Nguyên đơn yêu cầu công nhận cho bị đơn chiều ngang là 4m x dài hết đất là 25,35m = 101,4m².

Tổng diện tích bị đơn đang sử dụng là 210,7m² (kể cả diện tích nằm trong hành lang lộ giới). diện tích còn lại là 109,3m² nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả phần dôi dư 360.864.000 đồng là có lợi cho bị đơn (thấp hơn giá của công ty thẩm định) nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do đó, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm như đã phân tích trên.

Đối với phần đất của ông Nguyễn Văn Đ căn cứ theo: “Tờ bán đất” ngày 14/8/2006 thì bà Bùi Thị C và ông Lê Văn N1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ miếng đất có chiều ngang là 07m và chiều dài là 35m với giá 8.000.000 đồng. Bị đơn đã vào cất nhà ở từ trước khi chuyển nhượng. Phía nguyên đơn cho rằng chỉ chuyển nhượng cho ông Đ phần đất có chiều ngang là 04 mét nhưng không có chứng cứ chứng minh. Hơn nữa, nguyên đơn không yêu cầu giám định chữ ký trong tờ thỏa thuận trên nên Hội đồng xét xử không chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn đối với ông Đ. Bản án sơ thẩm công nhận cho ông Đ phần diện tích đất trên tại vị trí C và D theo Bản trích đo ngày 20/7/2023 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C là có cơ sở. Phần diện tích chuyển nhượng ít hơn thực tế sử dụng nên công nhận ổn định cho bị đơn là phù hợp. Do đó, giữ y phần quyết định này của bản án sơ thẩm.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi (trên 60 tuổi), nên được miễn án phí.

Yêu cầu của ông Đ được chấp nhận nên bị đơn ông Đ không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Văn Đ được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số 0004985 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt – Tp ..

Yêu cầu của ông Nguyễn Văn N được chấp nhận một phần và ông là người cao tuổi nên được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số 0004986 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

4. Về chi phí thẩm định xem xét tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí bản trích đo địa chính: Công nhận bị đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí trích đo địa chính tổng cộng là 6.600.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn N mỗi người chịu 3.300.000 đồng, và đã thực hiện xong.

5. Về chi phí thẩm định, định giá cấp phúc thẩm: Nguyên đơn chịu. Đã chi xong.

6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

7. Xét đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm có cơ sở chấp nhận một phần. Phần không chấp nhận đối với ông Nguyễn Văn N như đã phân tích trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 3, khoản 9, Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91, Điều 92, Điều 147; Điều 157; Điều 227; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 221, Điều 236, Điều 500, Điều 501, Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Điều Các Điều 100; 106; 166; 170 của Luật đất đai năm 2013.

Điều 697, Điều 698, Điều 700 Điều 701 Bộ luật Dân sự 2005.

Điều 690, Điều 691, Điều Điều 692, Điều 693, Điều 694, Điều 695 Bộ luật Dân sự năm 1995.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị C.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị C đối với ông Nguyễn Văn Đ.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị C đối với ông Nguyễn Văn N.

Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn Đ.

Công nhận ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng phần đất tranh chấp ký hiệu (C) và (D) có tổng diện tích là 171,1m², loại đất CLN, tọa lạc tại khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn N.

Công nhận ông Nguyễn Văn N được quyền sử dụng phần đất tranh chấp ký hiệu (A) và (B) có tổng diện tích là 210,7m², loại đất CLN, tọa lạc tại khu vực P, P. T, Q. T, Tp ..

Vị trí, kích thước các phần đất (A), (B), (C) và (D) được thể hiện trên Bản trích đo địa chính số 729/TTKTTNMT ngày 20/7/2023 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C.

Kiến nghị Ủy ban nhân dân quận T, thành phố Cần Thơ thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số “Q” 02375 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 18/9/2009 đứng tên ông Lê Văn N1 (đã chết), để cấp lại quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên và theo quy định pháp luật.

Các đương sự có nghĩa vụ liên hệ, hợp tác với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Buộc ông Nguyễn Văn N có trách nhiệm trả cho bà Bùi Thị C số tiền 360.684.644 đồng (Ba trăm sáu mươi triệu, sáu trăm tám mươi bốn nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng) để được sở hữu toàn bộ phần đất tại vị trí trên.

Kể từ ngày bà C có đơn yêu cầu Thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì ông N phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí bản trích đo địa chính: Công nhận bị đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và lệ phí trích đo địa chính tổng cộng là 6.600.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ, ông Nguyễn Văn N mỗi người chịu 3.300.000 đồng, và đã thực hiện xong.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là người cao tuổi (trên 60 tuổi), nên được miễn án phí.

Yêu cầu của ông Đ được chấp nhận, nên ông Đ không phải chịu án phí. Ông Nguyễn Văn Đ được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004985 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Ông N là người cao tuổi nên được nhận lại 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004986 ngày 23/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Thốt Nốt;
  • - Chi cục THADS quận Thốt Nốt;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 178/2024/DS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 178/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chap QSDĐ voi BĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger