|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 178/2023/HS-ST Ngày: 29 - 11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Hùng
Bà Trương Thị Kim Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Mãi - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Bảo T, sinh ngày: 17/11/1994.
Nơi sinh: tỉnh An Giang; Nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; Chức vụ trước khi phạm tội: Không có; Họ và tên cha: Đỗ Thanh P, sinh năm 1970 (sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 (sống); A, chị, em ruột: Có 04 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2016; Vợ, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị cáo Nguyễn Bảo T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/6/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số D, Ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Vắng mặt.
- Ông Đàm Văn C, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Ông Đoàn Tuấn K, ông Nguyễn Văn M. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 11 tháng 6 năm 2023, Nguyễn Bảo T cùng với Nguyễn Thị Ý N đến thuê Phòng số 101 Nhà nghĩ P thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An của ông Đàm Văn C, sinh năm 1982, nơi cư trú: ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, làm chủ Nhà nghĩ, để ngủ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T thuê xe mô tô đến khu vực Cầu Đ thuộc Xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông tên T2, không xác định nhân thân, lai lịch hỏi mua chất ma tuý (dạng đá) mục đích sử dụng. Lúc này, T2 bán cho T 01 túi nylon rãnh khép, viên đỏ bên trong chứa chất ma tuý (dạng đá) với số tiền 2.500.000 đồng, T đưa cho T2 số tiền 500.000 đồng, nợ lại T2 số tiền 2.000.000 đồng. T cất giấu túi nylon chứa chất ma tuý vừa mua trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc trên người rồi thuê xe mô tô đi về Phòng số 101. Khi T vừa về đến nhà nghĩ Phượng Hoàng thì gặp người đàn ông tên T3, không xác định nhân thân, lai lịch, T hỏi xin T3 01 nỏ thuỷ tinh (dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý dạng đá), T3 đồng ý và lấy 01 nỏ thuỷ tinh đưa cho T. Sau đó, T về Phòng số 101 lấy 01 chai nhựa và nỏ thuỷ tinh chế thành bộ D sử dụng chất ma tuý (dạng đá), T lấy một ít chất ma tuý (dạng đá) vừa mua bỏ vào nỏ thuỷ tinh, còn gói nylon chứa chất ma tuý T cất giấu vào trong túi xách da màu nâu của N để trên đầu giường ngủ (N không nhìn thấy T cất giấu túi ma túy). Cất giấu chất ma tuý xong, T cầm bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý lên đốt và sử dụng chất ma tuý rồi để bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý lên trên bàn trong phòng trọ, N thấy bộ dụng cụ nên cũng cầm lên sử dụng chất ma tuý bên trong rồi lại để bộ dụng cụ này lên bàn. Lúc này, Nguyễn Thành L đang ở Phòng số 102 đi qua mở cửa phòng vào nói chuyện với T và N. L nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý trên bàn nên cũng cầm lên và sử dụng chất ma tuý bên trong rồi để lại bộ dụng cụ sử dụng chất ma tuý trên bàn. Sau đó, T và N cũng tiếp tục sử dụng chất ma túy đến khi hết chất ma túy trong nỏ thủy tinh. Đến khoảng 01 giờ 40 phút ngày 12/6/2023, khi T, N và L đang ở trong Phòng số 101 thì bị Công an huyện Đ, tỉnh Long An đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 túi nylon rãnh khép, viền đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma tuý dạng đá; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý; 01 túi xách da màu nâu có kích thước 06 x 15 x 25cm.
Tại Kết luận giám định số 586/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh L kết luận: “Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền đỏ được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 9,0413 gam, loại Methamphetamine. Kèm theo kết luận giám định: Không có. Bản ảnh giám định gồm 08 ảnh được lưu tại Phòng K1, Công an tỉnh L. H lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 8,3066 gam được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 586”
Tại Kết quả xét nghiệm ngày 12/6/2023 của Phòng khám Đ kết luận: Nguyễn Bảo T, Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thành L dương tính với chất ma túy loại Methamphetamin.
Tất cả được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 586.”
Tại bản cáo trạng số 167/CT-VKSĐH ngày 20 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Bảo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Bảo T trình bày: Bị cáo thừa nhận bản thân là người nghiện ma túy do đó bị cáo có mua ma túy mục đích để bị cáo sử dụng. Sau khi mua bị cáo bỏ ma túy bỏ vào nỏ thủy tinh để sử dụng, phần ma túy còn lại bị cáo để trong túi xách của N (lúc này N đang trong nhà vệ sinh nên không biết). Sau khi bị cáo sử dụng ma túy xong thì Nguyễn Thị Ý N cũng là người ngiện ma túy đến sử dụng, sau đó có Nguyễn Thành L phòng kế bên qua thấy có bộ sử dụng ma túy nên sử dụng, bị cáo không rủ L sử dụng ma túy nhưng cũng không ngăn cản L sử dụng ma túy. Bị cáo thống nhất với bản Kết luận giám định số 586/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của phòng K1 Công an tỉnh L và nội dung bản cáo trạng, bị cáo không đưa ra chứng cứ nào minh oan, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An trình bày lời luận tội, phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Bảo T gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T mức hình phạt từ 05 năm đến 06 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T mức hình phạt từ 07 năm đến 08 năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt tù đối với bị cáo. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/6/2023.
Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 8,3066 gam (Bì thư có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Bảo T), tất cả được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 586, 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý; 01 túi xách da màu nâu có kích thước 06 x 15 x 25cm đề nghị tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ý N, ông Nguyễn Thành L, ông Đàm Văn C nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 2 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Bảo T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 12 tháng 6 năm 2023, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến cùng với Kết luận giám định số 586/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L và phù hợp với cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 11 tháng 6 năm 2023, bị cáo Nguyễn Bảo T đến khu vực Cầu Đ thuộc xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mua chất ma tuý của người đàn ông có tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 2.500.000 đồng. Sau đó, T đem chất ma túy vừa mua về Phòng số 101 Nhà N thuộc ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An lấy ra một ít chất ma túy, không rõ định lượng bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy để tự sử dụng và bị cáo T còn có hành vi cung cấp dụng cụ, chất ma túy tổ chức cho Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thành L cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Số ma túy còn lại 01 túi nylon bên trong chứa chất ma tuý, có khối lượng: 9,0413 gam, loại Methamphetamine, bị cáo T cất giấu trong túi xách màu nâu để trên đầu giường ngủ trong phòng với mục đích để bị cáo sử dụng. Đến khoảng 01 giờ 40 phút ngày 12/6/2023, Công an huyện Đ, tỉnh Long An kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tất cả ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Bảo T trong vụ án đã được giám định kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số: 586/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T thừa nhận.
Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Bảo T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khối lượng 9,0413 gam, chất ma túy loại Methamphetamine tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Bảo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hai người trở lên (Nguyễn Thị Ý N, Nguyễn Thành L sử dụng) tội phạm hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Bảo T với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo Nguyễn Bảo T là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội là mầm móng của nhiều tội phạm nguy hiểm khác.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo Nguyễn Bảo T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội của ma túy. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ và sử dụng ma túy trái phép dưới bất kỳ hình thức nào nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và tổ chức cho Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thành L sử dụng, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bảo T:
[4.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Bảo T thành khẩn khai báo có ý thức ăn năn hối cải, đặc biệt là lời khai của bị cáo về hành vi tổ chức sử dụng ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.
[4.2] Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Từ phân tích [2], [3] và [4] xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Bảo T là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bảo T trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, nghề nghiệp không ổn định, bản thân là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Bảo T là phù hợp.
[7] Đối với bộ D dùng để sử dụng chất ma túy, bị cáo T khai nhận xin của T3 (không rõ nhân thân lai lịch) để sử dụng chất ma túy. Tuy nhiên kết quả điều tra xác định T chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, chưa bị kết án về tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, ngoài ra số lượng đơn vị dụng cụ không đủ quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự nên hành vi của Nguyễn Bảo T không cấu thành tội phạm có liên quan.
[8] Đối với người có tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo Nguyễn Bảo T, do không xác định được nhân thân, lai lịch của T2 và chỉ có chứng cứ là lời khai duy nhất của bị cáo T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đối người đàn ông có tên T3 (không rõ nhân thân lai lịch) có hành vi cung cấp dụng cụ sử dụng chất ma túy cho Nguyễn Bảo T, do không xác định được nhân thân, lai lịch của T3 và chỉ có lời khai duy nhất của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Đối với Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thành L là người cùng sử dụng ma túy với bị cáo T nhưng N và L chỉ là người có nhu cầu sử dụng không có hành vi giúp sức trong việc cất giấu chất ma túy nên không cấu thành tội phạm có liên quan.
[11] Đối với Đàm Văn C không biết việc Nguyễn Bảo T, Nguyễn Thị Ý N và Nguyễn Thành L sử dụng trái phép chất ma túy trong Phòng số 101, nên hành vi của C không cấu thành các tội phạm có liên quan.
[12]. Về tang vật chứng:
Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với chất ma túy hoàn lại sau giám định có khối lượng: 8,3066 gam, loại Methamphetamine được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 586; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý; 01 túi xách da màu nâu có kích thước 06 x 15 x 25cm. Đây là ma túy và dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo không có ý kiến gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2023.
[13]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bảo T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo T 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bảo T 07 (H) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2023.
Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Bảo T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 29/11/2023) để đảm bảo thi hành án.
2. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 8,3066 gam, loại Methamphetamine được niêm phong cùng với vỏ bao đựng mẫu giám định số 586; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma tuý; 01 túi xách da màu nâu có kích thước 06 x 15 x 25cm.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 10 năm 2023.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Bảo T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thành |
Bản án số 178/2023/HS-ST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy; tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 178/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Bảo T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
