|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số:177/2024/HNGĐ-ST Ngày 31/7/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Minh Lễ;
2. Ông Phan Minh Quốc;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. (Có mặt).
* Bị đơn: Chị Bùi Thị Hồng T, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày như sau:
Anh và chị Bùi Thị Hồng T quen biết do mai mối, rồi tìm hiểu được mấy tháng thì tiến tới chung sống với nhau vào năm 2021, có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang ngày 30/08/2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc tới tháng 6/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù thời gian qua anh đã cố gắng hàn gắn để lo cho gia đình nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng T. Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Gia L, sinh ngày 14/7/2021, hiện đang sống với chị T. Sau ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Bùi Thị Hồng T đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng chị T vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.
* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tuyên: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng T. Giao cháu Nguyễn Bùi Gia L, sinh ngày 14/7/2021 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Anh Q chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn”; Bị đơn chị Bùi Thị Hồng T có hộ khẩu thường trú tại ấp M, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo thẩm quyền.
Chị Bùi Thị Hồng T (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Anh Q và chị Thủy c sống với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ ngày 30/8/2022 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Q xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Trong quá trình hôn nhân, anh Q trình bày do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay. Thời gian qua, hai vợ chồng cũng có thời gian để hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị T.
Tòa án đã triệu tập chị T để tham gia phiên hòa giải nhưng chị T vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Q thể hiện chị T không muốn hàn gắn.
Cuộc sống hôn nhân, vợ chồng là nhằm xây dựng một gia đình thật sự hạnh phúc, trở thành một tế bào của xã hội, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc và quan tâm lẫn nhau nhưng quan hệ vợ chồng giữa anh Q và chị T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn tồn tại. Quan hệ vợ chồng giữa anh Q và chị T trên thực tế đã không còn tồn tại, thời gian ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu của anh Q được ly hôn với chị T.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Bùi Gia L, sinh ngày 14/7/2021, hiện nay đang sinh sống cùng với chị T.
Xét thấy, hiện nay cháu L đang sống với chị T và anh Q cũng đồng ý giao cháu L cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu L, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu L, giúp cháu phát triển tốt về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu L cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, tuy nhiên chị T không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Chị T phải tạo điều kiện cho anh Q được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Q không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa anh Q và chị T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
[3] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Anh Q phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí anh Q đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Các Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q.
- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng T.
- Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Bùi Gia L, sinh ngày 14/7/2021 cho chị Bùi Thị Hồng T được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không có yêu cầu.
Chị T phải tạo điều kiện cho anh Q được thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Q trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa anh Q và chị T có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.
2. Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Q chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013660 ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Chị Bùi Thị Hồng T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
3. Anh Q được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Vân |
Bản án số 177/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 177/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Q
