TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2023/HSST Ngày: 28/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Luân Văn Lý
- Ông Lưu Danh Thuỳ
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là phòng hỏi cung Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 162/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 257/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Minh H; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/10/1986 tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình; HKTT: xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ D, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Mường; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Bùi Phương B, sinh năm 1962; Con bà: Trần Thị H1, sinh năm 1963, cùng trú tại xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Vợ, Con: Không có; Anh, chị em ruột: Bị cáo là con lớn trong gia đình có hai anh em; Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án, Ngày 11/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh (nay là huyện T) tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 (bảy) năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy.
Đặc điểm về nhân thân: Ngày 31/10/2005, Công an huyện T (nay là huyện T) tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ngày 09/01/2007, Công an huyện T (nay là huyện T) tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ngày 28/7/2008, Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh (nay là huyện T) tỉnh Cao Bằng xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 02/8/2023 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Dương Văn P; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/6/1984 tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12 phổ thông; Con ông: Dương Văn C, sinh năm 1952, Con bà: Mông Thị T, sinh năm 1951, cùng trú tại tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; A, chị em ruột: Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 04 anh em; Vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1987 (đã ly hôn năm 2018); Con: 01 con sinh năm 2010. Tiền án: không; Tiền sự: không. Đặc điểm về nhân thân: Ngày 30/8/2018, Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 27/12/2022, Công an thành phố C xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 02/8/2023 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bùi Sỹ N – Sinh năm 1990
Trú tại: xóm V, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Mông Thị T - Sinh năm 1951
Trú tại: tổ A, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 31/7/2023, Bùi Minh H một mình đi xe khách từ tổ 04, phường S, thành phố C đến khu vực phường C, quận N, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy về bán lại kiếm lời. Tại đây, H xuống xe và đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông (không quen biết, dáng giống người nghiện) nên hỏi mua Heroine với số tiền 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đi khoảng 15 phút (mười năm phút) rồi quay lại đưa cho H 01 (một) túi nilon trong suốt bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được H2, H đi xe khách về Cao Bằng. Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/8/2023 H về chỗ ở và chia số Heroine mua được thành 07 (bảy) gói trong đó 04 (bốn) gói được gói bằng giấy màu vàng và 03 (ba) gói được gói bằng giấy bạc màu trắng. Sau đó H cho 07 (bảy) gói nhỏ Heroine vào trong 01 (một) túi nilon màu trắng có khóa vuốt màu đỏ rồi cất giấu ở trên cửa thông gió nhà vệ sinh.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/10/2023, Dương Văn P gọi điện cho H để hỏi mua Heroine với số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sử dụng cho bản thân. Hòa đồng ý, hẹn P đến chỗ ở của H để trao đổi. Sau đó H lấy 01 (một) gói Heroine bọc bằng giấy bạc màu vàng từ số H đã chia trước đó bọc vào gói giấy vệ sinh màu trắng. Khoảng 15 phút sau, P điều khiển xe mô tô BLADE màu đỏ đen biển kiểm soát 11B1- 570.63 đến nhà H thấy H đang đứng chờ ở vỉa hè trước cửa. H nhìn thấy P nên đã điều khiển xe mô tô màu xanh bên ngoài có chữ EXCITER biển kiểm soát 11H1-186.72 đi cách nơi ở của H khoảng 50m (năm mươi mét) thì dừng lại. P đưa cho H 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), H nhận tiền và đưa cho P 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng chứa Heroine. P cất gói Heroine vào trong túi áo ngực bên trái rồi đi về nhà, khi đi đến khu vực tổ A, phường S, thành phố C thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang cùng với vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (P khai nhận là H2) có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam) của P tự giác giao nộp từ trong túi đằng trước chiếc áo P đang mặc; 01 (một) điện thoại di động có chữ Masstel màu xanh đen, có số IMEI 362377075562963, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô BLADE màu đỏ đen có biển kiểm soát 11B1- 570.63, xe cũ đã qua sử dụng.
Bùi Minh H sau khi bán Heroine cho P đã quay về chỗ ở và khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, H lấy 02 (hai) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng trong túi nilon màu trắng có khóa vuốt màu đỏ ra để bán lẻ thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đến khám xét khẩn cấp và thu giữ toàn bộ vật chứng gồm 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 02 (hai) gói nhỏ giấy bạc màu vàng bên trong mỗi gói đề chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có tổng khối lượng 0,38g (không phẩy ba mươi tám gam) được thu giữ tại túi đằng trước bên phải chiếc quần Bùi Minh H đang mặc; Tiền Việt Nam 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ tại túi đằng sau bên trái chiếc quần treo trên giá quần áo trong phòng ngủ của Bùi Minh H; 01 (một) túi nilon màu trắng có khóa vuốt viền màu đỏ bên trong có 01 (một) gói giấy bạc màu vàng và 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có tổng khối lượng là 0,71g (không phẩy bảy mươi một gam) do Bùi Minh H tự giác giao nộp từ trên cửa thông gió nhà vệ sinh tại nơi ở của Bùi Minh H. Tổng khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của H là 1,09g (một phẩy không chín gam); 01 (một) điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI 866167060223435, điện thoại cũ đã qua sử dụng thu giữ tại túi đằng trước bên trái chiếc quần H đang mặc; 01 (một) điện thoại di động màu xanh, mặt trước và sau có chữ MASSTEL, có số IMEI 355634046659444, điện thoại cũ đã qua sử dụng được thu giữ tại túi đằng trước bên trái chiếc quần H đang mặc; 01 (một) xe mô tô màu xanh bên ngoài có chữ EXCITER mang biển kiểm soát 11H1-186.72, xe cũ đã qua sử dụng.
Ngày 03/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 270 đối với vật chứng của vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 413/KL-KTHS ngày 10/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: 03 (ba) mẫu chất bột màu trắng bên trong 3 phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại: Heroine (heroin).
Hành vi trên đây của Bùi Minh H và Dương Văn P đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố. Tại bản Cáo trạng số 167/CT-VKSTP ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Bùi Minh H về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Dương Văn P về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo Bùi Minh H và Dương Văn P đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản Kết luận Giám định của Phòng K, Công an tỉnh C.
Về vật chứng và tài sản bị thu giữ của vụ án: Bị cáo H khai nhận 01 điện thoại Mastel màu xanh bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý với P; 01 điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ OPPO không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo. Số tiền Việt Nam 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ, trong đó có 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo lao động thuê mà có nên đề nghị được trả lại, số tiền còn lại 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho P mà có.
Bị cáo P khai có sử dụng 01 (một) chiếc điện thoại di động có chữ MASSTEL màu xanh đen của mình để liên lạc trao đổi mua bán ma tuý với bị cáo H. Chiếc xe máy HONDA BLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1- 570.63 đăng ký xe mang tên của bị cáo nhưng do mẹ ruột bị cáo Mông Thị T là người bỏ tiền ra mua, bị cáo không có đóng góp gì do đó đề nghị trả lại xe cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Sỹ N và bà Mông Thị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn Bùi Sỹ N xác nhận đã được nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì. Bà Mông Thị T yêu cầu trả lại chiếc xe HONDA BLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-570.63 vì bà T là người bỏ tiền ra mua xe nhưng do không biết lái xe nên cho bị cáo P đứng tên đăng ký và sử dụng làm phương tiện đi lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Bùi Minh H và Dương Văn P. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Minh H; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Văn P. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Dương Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Minh H từ 30 đến 36 tháng tù; bị cáo Dương Văn P từ 13 đến 16 tháng tù. Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 413/KL – KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Dương Văn P, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy"; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Tang vật cân khám xét KX01” và 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Tang vật cân khám xét KX03” Bùi Minh H, SN: 1986, HKTT: Vĩnh Quang, TT T, T, Cao Bằng, chỗ ở hiện nay: Tổ D, phường S, TP .. Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/8/2023.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) do đây là tiền bị cáo H bán ma túy cho bị cáo P mà có.
Trả lại cho bị cáo H: Số tiền Việt Nam 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; 01 (một) điện thoại di động màu xanh (xanh ngọc), mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chúng): 866167060223435, do điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số IMEI trong máy, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và mặt sau có chữ Masstel, có số IMEI: 355634046659444, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) có chữ Masstel màu xanh đen, có số IMEI: 362377075562963, điện thoại cũ đã qua sử dụng do liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-570.63, xe cũ đã qua sử dụng. Theo tài liệu chứng cứ thể hiện đây là chiếc xe do bà Mông Thị T là mẹ đẻ của bị cáo Dương Văn P bỏ tiền ra mua, đây là phương tiện đi lại của gia đình, việc bị cáo sử dụng chiếc xe đi mua ma tuý bà T không biết nên cần trả lại cho bị cáo P.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/8/2023 tại khu vực tổ A, phường S, thành phố C, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Dương Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Dương Văn P khai nhận số Heroine đó của P mua với Bùi Minh H tại khu vực tổ D, phường S, thành phố C. Hồi 13 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Bùi Minh H tại tổ D, phường S, thành phố C đã thu giữ 1,09g (một phẩy không chín gam) Heroine của H tàng trữ mục đích bán lại kiếm lời. Do vậy, Dương Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) Heroine; Bùi Minh H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 1,21g (một phẩy hai mươi một gam) Heroine.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo H thực hiện hành vi bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Minh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Bị cáo P tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng cho bản thân nên hành vi của bị cáo Dương Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo Bùi Minh H là người nghiện ma tuý, có nhân thân xấu: có 01 tiền án: Ngày 11/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Trà Lĩnh (nay là huyện T) tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 (bảy) năm tù về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 04/01/2021 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương nhưng chưa được xoá án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Ngoài ra bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho người khác và bị Toà án xét xử về Tội trộm cắp tài sản.
Bị cáo Dương Văn P là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có 01 (một) tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội mới nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4] Về hình phạt:
Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định và áp dụng hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ để cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ, trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 413/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Dương Văn P, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy"; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Tang vật cân khám xét KX01 Bùi Minh H; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Tang vật cân khám xét KX03 Bùi Minh H. Xét thấy, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên bị tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo Bùi Minh H: Trong đó có số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) là số tiền mà bị cáo H bán ma túy cho bị cáo P mà có, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) do bị cáo H lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) điện thoại di động màu xanh (xanh ngọc), mặt sau có chữ OPPO, điện thoại cũ đã qua sử dụng;
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và mặt sau có chữ Masstel, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) có chữ Masstel màu xanh đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng do liên quan đến hành vi phạm tội.
Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-570.63. Xe cũ đã qua sử dụng. Theo tài liệu trong hồ sơ và lời khai của bị cáo P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mông Thị T thể hiện: Đây là chiếc xe do bà T là người bỏ tiền ra mua, không có đóng góp của bị cáo P nhưng cho P đứng tên đăng ký chủ sở hữu, bà T không biết bị cáo P sử dụng chiếc xe để làm phương tiện phạm tội. Tại phiên toà, bị cáo P và bà T có ý kiến xin được trả lại chiếc xe cho gia đình sử dụng nên cần trả lại chiếc xe cho bị cáo P.
Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu EXCITER mang biển kiểm soát 11H1-186.72 là của em trai ruột Bùi Sỹ N, N không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mông Thị T, Bùi Sĩ N1 không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên không đặt ra vấn đề xem xét.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Bùi Minh H khai được mua với một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực phường C, quận N, thành phố Hải Phòng. Việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến nên không đủ căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bùi Minh H.
Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Dương Văn P.
Tuyên bố: bị cáo Bùi Minh H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Bị cáo Dương Văn P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Bùi Minh H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/8/2023.
Xử phạt bị cáo Dương Văn P 13 (Mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 02/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 413/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Dương Văn P, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy"; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Tang vật cân khám xét KX01 Bùi Minh H, SN: 1986, HKTT: Vinh Quang, TT T, T, Cao Bằng, chỗ ở hiện nay: Tổ D, P. S, TP .. Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/8/2023"; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Tang vật cân khám xét KX03 Bùi Minh H, SN: 1986, HKTT: Vĩnh Quang, TT T, T, Cao Bằng, chỗ ở hiện nay: Tổ D, P. S, TP .. Hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 02/8/2023"; (Đã có Kết luận giám định số 466/KL – KTHS, ngày 10/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh C).
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) trong số Tiền Việt Nam thu giữ: 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng). Cơ quan Công an thành phố C đã chuyển số tiền trên vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Uỷ nhiệm chi số 17 ngày 28/11/2023.
Trả lại cho bị cáo Bùi Minh H: số tiền 530.000đ (Năm trăm ba mươi nghìn đồng) trong số Tiền Việt Nam thu giữ: 1.030.000đ (Một triệu không trăm ba mươi nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ số tiền để đảm bảo thi hành án; 01 (một) điện thoại di động màu xanh (xanh ngọc), mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI (theo quyết định chuyển vật chứng): 866167060223435, do điện thoại không bật được nguồn nên không kiểm tra được số IMEI trong máy, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu xanh, mặt trước và mặt sau có chữ Masstel, có số IMEI: 355634046659444, điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) có chữ Masstel màu xanh đen, có số IMEI: 362377075562963, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo Dương Văn P 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu HONDA BLADE, màu đỏ đen, biển kiểm soát 11B1-570.63. Số khung: RLHJA3677MY008420, số máy: JA36E1061860. Xe cũ đã qua sử dụng. Xe có số khung, số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 25/10/2023 của Công an thành phố C cung cấp (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 27 ngày 01/12/2023.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Bùi Minh H và Dương Văn P mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Hanh |
Bản án số 177/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự sơ thẩm (tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 177/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội mua bán trái phép chất ma túy và Tội tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Minh H phạm tội Mua bán trái phép chết ma tuý Dương Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
