|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 177/2023/HS-ST Ngày 26-12-2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường- Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hoài- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu Trung tâm tại Tòa án nhân dân quận Lê Chân và điểm cầu thành phần tại Trại giam Công an thành phố H vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 176/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 720/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Quàng Văn N, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1987 tại Điện Biên. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Cọ, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; chỗ ở: Tổ B phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 1/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn P và bà Lò Thị K; có vợ là Lò Thị T và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 02/8/2023; tạm giam ngày 10/8/2023; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Duy K1, trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 02/8/2023, N đi xe ôm của một người không quen biết từ khu vực Trung tâm thương mại A, Hải Phòng đến đường tàu Trần Nguyên H, L, Hải Phòng để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp một người nam giới (không rõ căn cước, lai lịch) hỏi “có mua hàng không chú chở đi”. Nối hiểu người nam giới hỏi có mua ma túy không nên N đồng ý và đưa cho người đó 100.000 đồng. Người nam giới nhận tiền rồi chở N đến ngõ I L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Khi vào trong ngõ, người nam giới bảo N đứng trông xe. Sau đó, người nam giới đi vào sâu bên trong ngõ, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho Nối 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có Heroin. Nối cầm vỏ bao thuốc lá ở tay trái rồi đi bộ về còn người nam giới đi đâu không rõ. Khi N đi đến khu vực đầu ngõ I L thì bị lực lượng Công an phường L kiểm tra, quá trình kiểm tra N đã làm rơi vỏ bao thuốc lá bên trong có 02 gói giấy chứa chất bột màu trắng. Lực lượng Công an đã thu giữ vỏ bao thuốc lá Thăng long 02 gói giấy chứa chất bột màu trắng trên, đưa N cùng vật chứng về trụ sở Công an phường L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 649/KLGĐ-MT ngày 08/8/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng trong 02 gói giấy thu giữ của Quàng Văn N là ma túy, có khối lượng: 0,25 gam, là loại Heroin.
Tại bản cáo trạng số 172/CT-VKS ngày 06/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Quàng Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người bán ma túy cho Quàng Văn N, quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận L có căn cứ điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quàng Văn N từ 18 (mười tám) đến 24 (hai tư) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy ma túy còn lại sau giám định.
Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo và có đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Trợ giúp viên pháp lý Phạm Duy K1 bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm:
Về tội danh: Không tranh luận về tội danh và điều khoản áp dụng đối với bị cáo chỉ lưu ý Hội đồng xét xử với lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn nên đề nghị áp dụng mức án thấp nhất đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong suốt quá trình điều tra bị cáo luôn thành khẩn khai báo, rất ăn năn, hối hận về hành vi phạm pháp của mình và mong muốn có cơ hội được sửa chữa sai lầm. Vì vậy đề xuất cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo là người dân tộc Thái, thuộc hộ nghèo của Bản Cọ, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa của bị cáo thấp nên dẫn đến việc hạn chế nhận thức về mọi mặt của đời sống xã hội cũng như pháp luật, đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người thuộc hộ nghèo, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Về án phí: Do bị cáo là người thuộc hộ nghèo và có đề nghị tại phiên tòa xin được miễn án phí. Vì thế đề nghị áp dụng Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 02/8/2023 tại khu vực đầu ngõ I L, L, Hải Phòng, Quàng Văn N đã có hành vi cất giấu trái phép 0,25 gam Heroin, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận L, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về quyết định hình phạt và các vấn đề khác:
[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Quàng Văn N là người dân tộc T1, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 861QĐ/TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ), trình độ văn hóa thấp, hạn chế nhận thức về xã hội cũng như pháp luật. Vì vậy có thể chấp nhận quan điểm của người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, xét tội phạm bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, cần có hình phạt nghiêm, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. HĐXX xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng, bị cáo thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 của Phòng K2 Công an thành phố H đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn N 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02 tháng 8 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 649MT/PC09 đựng vỏ bao gói và số ma túy còn lại sau giám định (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Quàng Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thùy Linh |
Bản án số 177/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 177/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
