|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 177/2024/HS-PT Ngày: 25/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Long.
Bà Trương Thị Anh.
- Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 247/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Mai Trọng Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo: Mai Trọng Đ - sinh năm 1983; Số CCCD: [...] (do Cơ quan CSĐT - Công an huyện N lập); Nơi cư trú: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Trọng L (đã chết); con bà Mai Thị P - sinh năm 1963; vợ: Mai Thị N - sinh năm 1981; có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014); Tiền án: không ; Tiền sự: ngày 12/7/2023, bị Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích” bằng hình thức phạt tiền 6.500.000đ, ngày 12/7/2023 chấp hành xong quyết định; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/4/2024 đến ngày 17/4/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: anh Mai Thế T, sinh năm 1985. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình bị cáo Mai Trọng Đ có làm ao nuôi trồng thủy sản. Ao cá nhà Đ tiếp giáp một trong ba ao cá nhà anh Mai Thế T (sinh năm 1985, ở cùng thôn). Giáp phía Đông của ao cá nhà Đ và ao cá nhà anh T là một mương nước được các gia đình ở đây sử dụng chung. Khoảng 16 giờ ngày 06/4/2024, do muốn lắp thêm mắt camera cho hệ thống camera an ninh của trang trại nhà mình nên Đ đã gọi điện thoại cho anh T để xin lắp một chiếc camera lên cột điện nhà anh T nhưng chị Nguyễn Thị P1 (vợ anh T) không đồng ý nên Đồng cảm thấy bực tức.
Khoảng hơn 01 giờ ngày 07/4/2024, trong lúc nằm ngủ tại trang trại của gia đình (ở thôn E, xã N) để chờ bắt tôm, Đ nhớ lại một số sự việc mâu thuẫn với gia đình anh T, trong đó có việc gia đình anh T hút bùn trong ao nhà mình lấp đầy mương nước của mấy gia đình sử dụng chung, mặc dù Đ đã góp ý nhưng anh T vẫn chưa khắc phục khiến Đ bức xúc và nảy sinh ý định đổ thuốc diệt tạp xuống ao nhà anh T nhằm mục đích làm chết cá trong ao. Để thực hiện ý định, Đ lấy vỏ dầu ăn loại 1,5 lít (chai nhựa rỗng) để ở túi rác trong bếp, ngồi trước hiên nhà, dùng dao cắt vỏ chai thành hai phần, đổ 02 chai thuốc diệt tạp vào phần đáy chai vừa cắt được. Sau đó, Đ đi đến ao cá nhà anh T (giáp với trang trại nhà Đ) đứng phía ngoài bờ thép gai ném chai nhựa và thuốc diệt tạp vào ao cá nhà anh T, còn vỏ chai thuốc diệt tạp và phần trên của chai nhựa, Đ ném xuống mương nước, sau đó đi về nhà.
Sáng ngày 07/4/2024, anh Mai Thế T đi ra ao nuôi cá của gia đình mình tại khu vực quy hoạch xây dựng trang trại tổng hợp xứ đồng “Nam cầu cẳng” thuộc địa phận thôn E, xã N để cho cá ăn thì phát hiện cá trong ao có biểu hiện bất thường, cho rằng cá bị ngộp nước nên anh T bật máy quạt nước thì thấy cá trong ao vọt lên mặt nước, sau đó chết không rõ nguyên nhân. Quan sát ao cá, anh T phát hiện trên mặt ao có 01 vỏ chai nhựa đã bị cắt phần phía trên, bên trong có dung dịch lỏng, màu trắng. Nghi ngờ ao cá của gia đình bị kẻ gian bỏ thuốc độc làm chết cá nên anh T đã trình báo với Công an xã N để xác minh, làm rõ.
Sau khi tiếp nhận tin báo, tiến hành các bước kiểm tra, xác minh ban đầu, Công an xã N đã báo cáo chuyển nguồn tin đến Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện N để xác minh theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã phối hợp với VKS tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Qua khám nghiệm phát hiện, thu giữ một số mẫu vật tại ao cá phía Đông Bắc của gia đình anh T gồm:
- 01 xác cá trắm; 01 xác cá diêu hồng; 01 đáy chai nhựa.
2
- 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu trắng (Cơ quan cảnh sát điều tra lấy một vỏ chai nhựa rỗng có nắp để niêm phong chất lỏng màu trắng thu được trong phần đáy chai nhựa nêu trên);
- Lấy nước trong ao tại 03 vị trí: tầng đáy ao, tầng nước giữa và mặt nước, đựng trong 03 chai nhựa, niêm phong theo quy định.
Nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hồi 14 giờ ngày 08/4/2024 Mai Trọng Đ đã tự thú với Công an xã N về hành vi đổ thuốc diệt tạp xuống ao cá của gia đình anh Mai Thế T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Trọng Đ, phát hiện thu giữ 01 con dao bằng kim loại có chiều dài 38cm, lưỡi dao rộng 5,6cm, đầu dao bằng, không có cán, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm vật chứng là phần trên vỏ chai nhựa được cắt ra và 02 vỏ chai thuốc diệt tạp nhưng không tìm thấy.
Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N ra Quyết định trưng cầu giám định số 139/QĐ-CSHS trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh T giám định 02 đoạn video clip do camera an ninh của gia đình chị Mai Thị N (là vợ của Mai Trọng Đ) ghi lại những hình ảnh của Đồng vào ngày 07/4/2024. Theo đó, camera của gia đình Đ quay được hình ảnh trên và khu vực dưới mái hiên nhà Đ. Vào lúc 01h55' ghi lại hình ảnh Đồng đi lại trong sân và ngồi dưới hiên dùng dao cắt chai nhựa.
Tại Kết luận giám định số 1532/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 02 tệp video của 01 USB gửi giám định.
Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N ra Quyết định yêu cầu định giá tài sản số 318/YC-CSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản U xác định giá trị của trọng lượng cá tại thời điểm bị hủy hoại (ngày 07/4/2024).
Tại Kết luận số 04/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá UBND huyện U kết luận: ngày 07/4/2024, 580kg cá trắm sống có trọng lượng khoảng 01kg/con, có giá trị 23.780.000đ và 93kg cá diêu hồng sống có trọng lượng khoảng 0,5kg/con, có giá trị 3.534.000đ, tổng giá trị số cá trong ao nhà anh T bị hủy hoại là 27.314.000đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm mười bốn nghìn đồng).
Ngày 09/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N ra Quyết định số 141/QĐ-CSĐT T3 - Bộ C1 giám định đối với các mẫu nước, mẫu cá và tang vật đã thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 2647/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của V - Bộ C1 kết luận:
3
- Trong mẫu nước ao (ký hiệu M1), 02 mẫu cá đã chết (ký hiệu M2), chất lỏng màu trắng trong chai nhựa (ký hiệu M3) và mẫu chất màu trắng bám dính trong phần đáy chai nhựa (ký hiệu M4) gửi giám định đều có tìm thấy endosulfan.
- Endosulfan là thuốc trừ sâu nhóm clo hữu cơ, độc đối với cá, có nồng độ gây chết trung bình đối với cá trong 96 giờ là 0,02mg/lít nước.
Ngày 10/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N có công văn số 137/CV-CSĐT gửi Phòng Tài nguyên Môi trường huyện N để
đề nghị Phòng T phối hợp, đánh giá ảnh hưởng tác động của chất endosulfan đến môi trường và cách xử lý, chi phí khắc phục hậu quả về môi trường đối với hành vi phạm tội của Mai Trọng Đ gây ra. Tại Công văn phúc đáp số 286/CV-TNMT ngày 13/5/2024 của Phòng Tài nguyên môi trường huyện N, nội dung như sau:
- Chất E là hóa chất bảo vệ thực vật họ Clo hữu cơ, một nhóm chất hữu cơ bền, loại hóa chất E được sử dụng trong phòng ngừa sâu bệnh cho cây trồng trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Ở Việt Nam, hóa chất E đã bị cấm sử dụng từ năm 2011, song hóa chất vẫn được bán trôi nổi trên thị trường và được người nông dân sử dụng loại hóa chất này một cách hết sức tùy tiện.
- Hóa chất E là loại chất độc đã bị cấm lưu hành tại Việt Nam. Nếu con người tiếp xúc trực tiếp, sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày như tắm, rửa, ăn, uống... loại hóa chất trên có khả năng gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây các tác động xấu cho nội tạng và gây nguy hiểm cho con người. Nếu sử dụng hàm lượng Endosulfan từ 2 microgam Endosulfan/1 lít nước thì các sinh vật, động vật như cá, tôm và các loại thủy hải sản khác sống trong nước có thể chết. Hàm lượng Endosulfan cao hơn 2 microgam Endosulfan/1 lít nước sẽ rất nguy hiểm cho các loài thủy hải sản sống trong nước và gây chết hàng loạt.
- Hóa chất E nếu bị hòa tan vào môi trường đất, môi trường nước sẽ gây ô nhiễm môi trường đất cũng như môi trường nước. Có nhiều phương pháp để có thể khắc phục, loại bỏ hóa chất E bị hòa tan trong môi trường đất và nước. Tuy nhiên, sau một thời gian nhất định, trong điều kiện tự nhiên hóa chất E có thể tự phân hủy, môi trường đất và nước có thể trở lại bình thường và người dân có thể tiếp tục nuôi thủy hải sản”.
Như vậy, hành vi đổ chất lỏng có thành phần E xuống ao cá nhà anh Mai Thế T của Mai Trọng Đ đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 BLHS.
* Về nguồn gốc 02 chai thuốc diệt tạp: do có nhu cầu sử dụng để diệt tạp cá cho ao nhà mình nên khoảng đầu tháng 3/2024 bị cáo đến cửa hàng của anh Phạm Văn C (xã N, huyện N) để mua 03 chai thuốc diệt tạp và đã đổ xuống ao của nhà mình 01 chai, còn lại 02 chai sáng ngày 07/4/2024 bị cáo đổ xuống ao cá nhà anh T.
4
Sau khi sự việc xảy ra, gia đình anh T đã vớt toàn bộ số cá chết trong ao, bơm nước vào ao, phơi ao đến nay đã thả tôm, tôm nuôi trong ao sinh trưởng, phát triển bình thường. Gia đình anh T không yêu cầu Mai Trọng Đ bồi thường chi phí thau rửa ao cá. Anh Tú đã nhận số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) do gia đình Đ bồi thường và không yêu cầu gì thêm.
Đối với anh Phạm Văn C: anh C có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ngành nghề buôn bán thuốc thú y, thủy sản, vật tư thủy sản, thức ăn chăn nuôi thủy sản. Mặc dù theo lời khai của Mai Trọng Đ và anh Phạm Văn C,
xác định Đ có mua 03 chai thuốc diệt tạp tại cửa hàng của anh C. Tuy nhiên, trên nhãn mác của chai thuốc diệt tạp GEL-SAPONIN không ghi thành phần endosulfan. Vì vậy, anh C không biết trong thuốc có chứa thành phần endosulfan, do đó không xử lý đối với anh C là có căn cứ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N đã có kiến nghị phòng Nông nghiệp và P2 phối với các đơn vị liên quan tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn huyện để kịp thời phát hiện vi phạm, có biện pháp xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: khoản 1 Điều 178; Điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 331; Điều 333; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Mai T1 Đồng phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Trọng Đ 04 (bốn) tháng tù, được trừ đi 09 (chín) ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 03 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Sau khi án sơ thẩm xử: ngày 12/8/2024, bị cáo Mai Trọng Đ kháng cáo với nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Ngày 23/9/2024, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại
5
điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, để xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” là phù hợp quy định pháp luật. Tuy nhiên, xem xét nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là thiếu sót. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần xem xét áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS và xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357
BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Trọng Đ, giảm cho bị cáo 01 tháng tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 tháng tù còn lại theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm theo đúng quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận: do nảy sinh mâu thuẫn với gia đình anh Mai Thế T ở cùng thôn trong sinh hoạt hàng ngày, vào khoảng hơn 01 giờ sáng ngày 07/4/2024 bị cáo đã có hành vi sử dụng 02 chai thuốc diệt tạp có chứa thành phần endosulfan thả xuống ao cá nhà anh T, làm chết cá trong ao có tổng trọng lượng là 673kg, trị giá 27.314.000đ (hai mươi bảy triệu, ba trăm, mười bốn nghìn đồng). Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình anh T 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng), anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
6
Với hành vi nêu trên, ngày 29/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, đề nghị HĐXX áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
HĐXX xét thấy, nguyên nhân xảy ra vụ án là do bị cáo bực tức với gia đình anh T trong việc không cho lắp nhờ camera lên cột điện và hút bùn trong ao lấp đầy mương nước của một số gia đình sử dụng chung, nên đã có hành vi đổ thuốc diệt tạp xuống ao cá nhà anh T, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn ảnh hưởng đến trật tự và an toàn xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm minh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, xử phạt bị cáo mức hình phạt 04 tháng tù. Tuy nhiên, xét thấy sau khi sự việc xảy, nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo đã tự thú; thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã bồi thường đầy đủ cho người bị hại. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là có thiếu sót. Vì vậy, HĐXX có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo và xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí phúc thẩm: bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 345; Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Trọng Đ.
7
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa về áp dụng pháp luật và về hình phạt đối với bị cáo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Mai T1 Đồng phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Mai Trọng Đ 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 08/4/2024 đến ngày 17/4/2024).
Về án phí: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
8
Bị cáo Mai Trọng Đ chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” vào tháng 7/2023. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại. Tuy nhiên, với nhân thân của bị cáo nêu trên, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo là phù hợp.
Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51BLHS do Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót. Vì vậy, cần xem xét áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 51 BLHS và giảm cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với cộng đồng và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
tòa án cấp sơ thẩm nhận định quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị N1 không thành khẩn khai báo, bao che cho bị cáo Nguyễn Đăng T2 nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là không chính xác. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thị N1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không phụ thuộc và không buộc phải khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đăng T2 nên đề nghị HĐXX xem xét, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Lê Thị N1. Về nguyên nhân xảy ra vụ án có sự mâu thuẫn trong gia đình, giá trị thiệt hại về tài sản không lớn, các bị cáo và người bị hại có mối quan hệ ruột thịt với nhau, nên cần xem xét, giải quyết vụ án trên cơ sở đảm bảo truyền thống đạo lý, tình nghĩa mẹ con, chị em trong gia đình. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là thành khẩn khai báo. Bị cáo N1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T2 phạm tội với vai trò thứ yếu theo sự chỉ đạo của mẹ là bị cáo N1. Các bị cáo sau khi phạm tội đã nhận thức được sai phạm của mình, ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình, đã liên đới bồi thường đầy đủ cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, mà xử phạt bị cáo Lê Thị N1 hình phạt cải tạo không giam giữ, bị cáo Nguyễn Đăng T2 cho hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Mai Trọng Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
9
* Về nội dung liên quan đến kháng cáo:
Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định tội danh của các bị cáo như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định tội danh của bị cáo như bản án sơ thẩm đã tuyên.
* Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Nhân thân: bị cáo chưa có tiền án nhưng có tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích";
- Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo pham tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự thú; thành khẩn khai báo; đã bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm i, r, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
- Tình tiết tăng nặng TNHS: Không.
* Tình tiết mới tại giai đoạn phúc thẩm:
- Bị cáo Mai Trọng Đ cung cấp tình tiết mới trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã bồi thường thiệt hại 30.000.000đ cho bị hại, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo.
- Đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
* Xét kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Mai Trọng Đ, thấy rằng:
Xem xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Mai Trọng Đ chưa có tiền án, nhưng có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý gây thương tích” vào tháng 7/2023. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại. Tuy nhiên, với nhân thân của bị cáo nêu trên, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo là phù hợp.
Trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51BLHS do Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, áp dụng cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là thiếu sót. Vì vậy, cần xem xét áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 51 BLHS và giảm cho bị cáo một phần hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với cộng đồng và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Từ những nội dung và tình tiết đã phân tích, nhận định như trên, đề nghị HĐXX:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS:
10
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Trọng Đ, giảm cho bị cáo 01 tháng tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 03 thangs tù còn lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm của VKSND tỉnh Thanh Hóa và đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng T2 làm đúng thời hạn luật định. Tại phiên tòa, đại diện VKS thay đổi một phần nội dung kháng nghị, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận: do có mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa các bị cáo và bị hại, nên ngày 24/8/2021 các bị cáo đã có hành vi thuê máy múc phá hủy bức tường rào của bị hại trị giá 5.224.000đ (năm triệu hai trăm hai mươi tư nghìn đồng). Quá trình điều tra, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại (nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy).
Với hành vi trên, ngày 31/5/2022 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy đã tuyên xử các bị cáo về tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, xét thấy vụ án xảy ra do mâu thuẫn trong nội bộ gia đình, các bị cáo và người bị hại có mối quan hệ ruột thịt với nhau (các bị cáo là mẹ và em trai của bị hại), giá trị tài sản các bị cáo gây thiệt hại cho người bị hại không lớn. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T2 thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Bị cáo N1 quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo là thiếu sót. Vì vậy, các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Xét thấy, bị cáo Lê Thị N1 là người già trên 70 tuổi, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Bị cáo Nguyễn Đăng T2 thực hiện hành vi phạm tội theo sự chỉ đạo của bị cáo N1, giữ vai trò thứ yếu trong vụ án. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã ăn năn hối hận, bồi thường đầy đủ cho người bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là thành khẩn khai báo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa, kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng T2 và đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo T2. Xử phạt bị cáo Lê Thị N1 mức án cải tạo không giam giữ; giảm 01 phần hình
11
phạt cho bị cáo Nguyễn Đăng T2 và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương là phù hợp quy định pháp luật. Bị cáo Lê Thị N1 là người già, đã hết tuổi lao động nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
[3] Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đăng T2.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 22/2022/HS-ST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt đối với các bị cáo.
Căn cứ: khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Lê Thị N1). Khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Đăng T2).
Tuyên bố: các bị cáo Lê Thị N1, Nguyễn Đăng T2 phạm tội “Hủy hoại tài sản".
Xử phạt: - Bị cáo Lê Thị N1 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa nhận được hồ sơ thi hành án của Cơ quan thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Thị N1.
Giao bị cáo Lê Thị N1 cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Trong thời gian cải tạo không giam giữ, người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ và Luật thi hành án hình sự.
- Nguyễn Đăng T2 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.
12
Về án phí: các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
13
Bản án số 177/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 177/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Trọng Đồng vì mâu thuẫn đã đổ thuốc diệt tạp xuống ao cá nhà anh Tú làm cá chết.
