Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Anh Minh;
  2. Bà Lê Thị Thiện.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 182/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Đăng H, sinh năm: 1986 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Tổ I, ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Đăng T (đã chết) và bà Trần Thị L; tiền án: Ngày 30/11/2007, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội Giết người tại bản án số 1745/2007/HSPT đến ngày 30/8/2010 được đặc xá; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/3/2024 (bắt truy nã) đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Tấn Đ, sinh năm 1989, vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 1980, vắng mặt
  3. Ông Võ Văn S, sinh năm 1993, vắng mặt
  4. Ông Hồ Minh D, sinh năm 1983, vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Công T2, sinh năm 1992, vắng mặt
  6. Ông Hồ Văn P, sinh năm 1984, vắng mặt.
  7. Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1983, vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Hữu P1, sinh năm 1981, vắng mặt.
  9. Ông Nguyễn Nhật C, sinh năm 1980, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 05/10/2012, Phan Tấn Đ, Võ Văn S, ông Hồ Minh D; ông Nguyễn Công T2 đánh bị da độ thắng thua bằng tiền tại quán C1, địa chỉ số A, khu phố T, phường A, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương. S và ông T2 bắt cặp với nhau, còn Đ và ông D một cặp, thỏa thuận cược một độ thắng thua với số tiền là 5.000.000 đồng, mỗi người bỏ ra 2.500.000 đồng đưa Đ trực tiếp giữ. Quá trình chơi bi da chỉ có S và ông D trực tiếp đánh với nhau, ông T2 nghi ngờ ông D, S, Đức chơi gian lận nhằm chiếm đoạt tiền của mình nên ông T2 gọi điện thoại cho ông Nguyễn Trọng N; ông Nguyễn Tấn V, đến quán C1 để giải quyết việc chơi gian lận. Tại đây, hai bên cãi nhau ông N tát Đ nên Đ dùng cây cơ bị da đánh lại ông N. Lúc này, ông V dùng cây cơ bị da đánh 3 đến 4 cái vào người được Đ thì được mọi người can ngăn, tất cả ra về. Trên đường về, Đ gọi điện thoại cho ông Hồ Văn P hỏi ông P biết ông N là ai hay không?. Nghe vậy, ông P gọi điện thoại cho ông N hỏi sự việc đánh nhau và điện thoại cho Đ nói trả tiền cho ông T2. Đ hẹn ông N ra quán C2 tại địa chỉ số B, khu phố T, phường A, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương để nói chuyện. Sau đó, Đ điện thoại cho Phan Đăng H biết vừa bị ông N đánh, Đ nhờ H đến quán C2 giải quyết dùm, đề phòng bị nhóm ông N đánh sẽ đánh trả lại thì H đồng ý.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Đ, S, H, ông D và đối tượng Đ1 (chưa rõ thông tin nhân thân, lai lịch) đến quán C2 ngồi chờ ông N. Tại đây, Đ nói S điều khiển xe mô tô biển số: 61T1 - 8400 chạy đến nhà Nguyễn Lê T1 chở T1 đến quán. Trên đường đi, S kể cho T1 sự việc Đ bị ông N đánh và nhờ T1 xuống giải quyết vì nhóm của ông N đông người. Riêng P cũng đến quán C2 T3 vào ngồi chung bàn với nhóm Đ. Do thấy nhóm của ông N chưa đến quán, P đã điện thoại kêu ông N ra địa điểm đã hẹn. Lúc này, H điều khiển xe mô tô chạy đến quán cà phê Thy T4 vào ngồi chung bàn Đ, S, T1, ông D. Thời điểm này, ông N, ông V, ông T2 đang ăn uống tại địa chỉ khu phố T, phường A, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương, khi nhận được điện thoại của P thì ông T2 điều khiển xe mô tô chở ông N đến quán C2 T4 vào ngồi chung bàn với nhóm của Đ để nói chuyện. Thấy N đi vào, T1, SH đi ra ngoài, còn ông D, ông P tránh nơi khác để cho Đ và ông N ngồi nói chuyện với nhau. T1 đi đến bụi cỏ trước quán C2 chỉ tay vào rồi nói “đồ đây nè, cầm đồ theo”, H đi lại lấy 02 con dao mã tấu bằng kim loại cầm trên hai tay rồi đi vào quán đến chỗ ông N đang đứng chém 2, 3 nhát vào người của ông N, do bị chém ông N đưa ghế đang ngồi lên đỡ thì bị chém trúng tay phải và đầu. H làm rơi 01 con dao mã tấu. Lúc này, ông N vứt ghế bỏ chạy, T1 nhặt con dao mã tấu do H đánh rơi rồi cùng H đuổi theo ông N đến hồ nước của quán C2 thì ông N bị ngã bất tỉnh nên cả hai không đánh mà bỏ đi. Trong lúc T1H dùng mã tấu đuổi đánh ông N thì Đ cũng dùng tay, chân đánh T2 rồi bỏ đi, HT1 đã ném bỏ dao tự chế trên đường. Sau đó, Đ, H, S, T1 bỏ trốn. Ông N được quần chúng nhân dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B rồi chuyển đến Bệnh viện C3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 25/12/2012, Cơ quan Cảnh sát điều tra C4 (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phan Đăng H về tội Cố ý gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 340/2012/GĐPY ngày 13/12/2012 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y Sở Y tế tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Trọng N như sau: Vết thương trán 1 x 0,1 cm, vết thương đỉnh 2 x 0,3 cm, sẹo lành; Vết thương cổ tay phải 11 x 0,3 cm, sẹo lành, đứt gân gấp nông sâu các ngón 3,4,5 đã khâu nối, hiện co rút gân gấp, hạn chế duỗi các ngón 3,4,5, đứt thần kinh trụ, đứt bán phần thần kinh giữa đã khâu. Hiện tại: Sức cơ 3/5, rối loạn cảm giác bàn tay phải. Nguyễn Trọng N được xác định bị tổn hại sức khỏe do thương tích gây nên với tỷ lệ thương tật là 35 % (Ba năm phần trăm) tạm thời theo bản quy định tiêu chuẩn thương tật ban hành kèm theo thông tư liên bộ số 12/TT-LB ngày 26/7/1995.

Ngày 19/7/2013, Cơ quan Cảnh sát điều tra C4 (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can và Quyết định truy nã đối với Phan Đăng H do đã bỏ trốn, chưa xác định được bị can ở đâu. Đến ngày 24/3/2024, bắt được bị can Phan Đăng H nên ngày 26/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự đối với bị can; Quyết định phục hồi điều tra bị can đối với Phan Đăng H về tội Cố ý gây thương tích.

Cáo trạng số 169/CT-VKS-TA ngày 24/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phan Đăng H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, xác định bị cáo Phan Đăng H phạm tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và áp dụng Đ2 c Khoản 3 Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phan Đăng H mức hình phạt từ 06 năm 03 tháng tù đến 06 năm 09 tháng tù.

Đối với Phan Tấn Đ đã có hành vi dùng tay và chân đánh ông Nguyễn Công T2 gây thương tích nhẹ; ông T2 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không đề nghị xử lý.

Đối với Phan Tấn Đ, Võ Văn S, Hồ Minh D, Nguyễn Công T2 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bị da, do chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên không xem xét xử lý.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại do bị cáo Phan Đăng H sử dụng làm hung khí chém bị hại Nguyễn Trọng N, hiện không thu hồi được do bị cáo H vứt bỏ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4 không đề nghị xử lý.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển số) do Phan Đăng H sử dụng làm phương tiện phạm tội; Quá trình điều tra, xác định H mượn xe mô tô của ông Sầu R, sau khi phạm tội H đã trả lại cho ông R, hiện không thu hồi được nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4 không đề nghị xử lý.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen do bị cáo Phan Đăng H sử dụng vào việc phạm tội, H đã bị mất khi bỏ trốn, hiện không thu hồi được nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4 không đề nghị xử lý.

* Đối với Phan Tấn Đ, Nguyễn Lê T1, Võ Văn S đã được xét xử về tội Cố ý gây thương tích tại bản án số 323 ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương.

Về vật chứng thu giữ và trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại bản án số 323 ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương nên không đề nghị xem xét.

- Bị cáo Phan Đăng H trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đại diện viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

- Tại đơn xin xét xử vắng mặt: Bị hại ông Nguyễn Trọng N thống nhất với nội dung bản cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Đăng H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/12/2012, tại địa chỉ số B, khu phố T, phường A, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương, Phan Đăng H đã có hành vi cùng với với Phan Tấn Đ, Nguyễn Lê T1, Võ Văn S sử dụng hung khí 02 cây mã tấu bằng kim loại chém vào người ông Nguyễn Trọng N gây thương tích với tỷ lệ 35%. sức lao động tạm thời. Hành vi của bị cáo Phan Đăng H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Phan Đăng H về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về áp dụng pháp luật: Tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, đối với tội “cố ý gây thương tích” quy định tại Khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt từ 05 năm tù đến 10 năm tù là nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại Khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 để xét xử bị cáo Phan Đăng H theo hướng có lợi cho bị cáo.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật hình sự, sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện hành, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

* Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 30/11/2007, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội Giết người tại bản án số 1745/2007/HSPT đến ngày 30/8/2010 được đặc xá.

* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/11/2007, bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội Giết người là tội rất nghiêm trọng tại bản án số 1745/2007/HSPT đến ngày 30/8/2010 được đặc xá chưa được xóa án tích đến ngày 05/12/2012 tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình có công với cách mạng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét bị cáo Phan Đăng H phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã bỏ trốn thời gian dài gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố bị cáo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Phan Đăng H mức hình phạt từ 06 năm 03 tháng tù đến 06 năm 09 tháng tù là phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

[7] Đối với hành vi của Phan Tấn Đ đã dùng tay và chân đánh ông Nguyễn Công T2 gây thương tích nhẹ; ông T2 từ chối giám định thương tích và không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4 không đề nghị xử lý là đúng quy định của pháp luật và hành vi của Phan Tấn Đ, Võ Văn S, Hồ Minh D, Nguyễn Công T2 đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bi da, do chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự và đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C4 không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại bản án số 323/2013/HSST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) con dao bằng kim loại do Phan Đăng H sử dụng làm hung khí chém bị hại Nguyễn Trọng N, bị cáo H khai đã vứt bỏ sau khi thực hiện hành vi phạm tội hiện không thu hồi được do nên không đề cập xử lý.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển số) do bị cáo Phan Đăng H sử dụng làm phương tiện phạm tội; Quá trình điều tra, xác định bị cáo H mượn xe mô tô của ông Sầu R, sau khi phạm tội bị cáo H đã trả lại cho ông R, hiện không thu hồi được nên không đề cập xử lý.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen do bị cáo Phan Đăng H sử dụng vào việc phạm tội, bị cáo H khai đã làm bị mất khi bỏ trốn, hiện không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

[10] Về án phí: Bị cáo Phan Đăng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • + Điểm c Khoản 3 Điều 134; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • + Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14;
  • + Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Đăng H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Phan Đăng H 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 24/3/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Phan Đăng H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

3. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

7

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger