Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-PT

Ngày: 23/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Thẩm phán: - Bà Hoàng Thị Hải Hường.

- Bà Triệu Thị Luyện.

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 179/TLPT-HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo Lý Văn T1 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lý Văn T1, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: số nhà B, ngõ H, đường H, tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; con ông Lý Văn T2, sinh năm 1954 (đã chết); con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 đang lao động tại Trung Quốc; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có;

Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).

* Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị:

1. Vũ Đăng T3, sinh năm 2001; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; quốc tịch Việt Nam dân tộc: Kinh: tôn giáo: không: nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; con ông Vũ Đăng T4, sinh năm 1974; con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979, bị cáo là thứ nhất; vợ con: chưa có.

- Tiền án: Bản án số 72/202/HIST ngày 24/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Đũng, tỉnh Bắc Giang Xử phạt Vũ Đăng T3 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù giam về tội "Cố ý gây thương tích, ngày 19/4/2023, Vũ Đăng T3 được tha từ trước thời hạn theo Quyết dịnh số 35/2023/HSST-QĐ) của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, chuyển sang chấp hành thời gian thử thách 09 tháng 02 ngày tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/9/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Vắng mặt).

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Thôn Đ, Xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12, con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1959; con bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1960; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Trần Thị L, sinh năm 1987, trú tại xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Chưa

- Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại (Có mặt).

* Bị hại:

1. Lý Văn T1, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: số nhà B, ngõ H, đường H, tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

2. Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984.

Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: thôn Đ, Xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Có mặt).

+ Anh Nguyễn Trọng T8, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Tam Sơn, xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Văn T9, sinh năm 2004; địa chi: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T5, sinh năm 1984 ở thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang và chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1989, ở thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

cùng nhau mở quán cà phê 83 kinh doanh bia, cà phê tại thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, lần lượt có anh Dương Văn N1, sinh năm 1994 ở thôn V, xã T, thành phố B; Lý Văn T1, sinh năm 1995 ở số nhà B, ngõ H, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Vũ Đăng T3, sinh năm 2001 ở thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nguyễn Trọng T8, sinh năm 1997 ở thôn T, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Văn T9, sinh năm 2004 ở thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đi đến quán C để uống bia. Trong khi mọi người ngồi uống bia thì chị Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Văn T5 ngồi uống bia cùng mọi người, do đã muộn và mọi người nói to nên chị T7 không bán bia nữa rồi bảo mọi người đi về thì bị Lý Văn T1 cầm lần lượt 04 chiếc cốc đựng bia, hắt bia vào người chị T7 làm bia bắn cả vào người T5, đến cốc thứ tư thì Lý Văn T1 ném cả cốc bia vào người chị T7 nhưng không trúng mà cốc bia trúng vào tường làm vỡ cốc. Thấy vậy, T5 vào trong nhà lấy 01 con dao bằng kim loại có tổng chiều dài khoảng 35 cm, mũi dao bị gẫy, chuôi dao bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm chạy đến vị trí Lý Văn T1 đang đứng dùng tay phải cầm dao dơ lên chém theo hướng từ trên xuống dưới thì Lý Văn T1 cúi xuống tránh được rồi dùng tay trái giữ tay cầm dao của T5 và dùng tay phải quàng vào cổ T5 để vật ngã T5, lúc này Vũ Đăng T3 đứng bên cạnh cầm theo 01 chiếc ghế nhựa màu vàng dơ lên vụt vào đầu T5 làm vỡ chiếc ghế nhựa. Sau đó, Lý Văn T1 vật ngã T5 nằm ngửa xuống đất, T3 đi đến dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt T5, còn Nguyễn Trọng T8 dùng chân phải đạp 02 cái vào người T5, Nguyễn Văn T9 dùng chân đạp 01 cái vào mông và dùng tay đấm 01 cái vào vùng đùi của T5. Thấy T5 bị mọi người đánh, anh Dương Văn N1 chạy vào can ngăn, nghĩ là anh N1 xông vào đánh T5 nên chị T7 cầm 01 chiếc gậy rút bằng kim loại vụt vào lưng anh N1. Trong khi mọi người đánh T5 thì Lý Văn T1 giằng co con dao trên tay T5, bị con dao trên tay T5 cứa 01 nhát vào vùng cung mày phải và 01 nhát vào vùng ngực trái, T5 giằng co con dao nên cũng bị thương ở mu bàn tay trái. Sau khi Lý Văn T1 giằng được con dao trên tay T5 thì anh Dương Văn N1 giữ tay Lý Văn T1 để giằng con dao, thấy T5 đang ngóc đầu lên thì Lý Văn T1 dùng chân phải đạp 01 cái vào vùng trán và 01 cái vào thái dương bên trái của T5 làm T5 nằm gục xuống đất, anh N1 đẩy Lý Văn T1 ra ngoài rồi giằng con dao trên tay Lý Văn T1 vứt vào trong quán và đi đến đỡ T5 dậy thì Lý Văn T1 lao đến dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt T5 và đá 01 cái vào sườn trái của T5 rồi đi ra nhặt chiếc ghế nhựa màu vàng T3 đã dùng đánh Thái trước đó ném về phía T5 nhưng không trúng. Sau được mọi người can ngăn nên Lý Văn T1 không đánh T5 nữa và đi đến Bệnh viện Đ1 ở thị trấn T, huyện Y khám điều trị với vết thương đuôi cung mày phải và vết thương phần mềm vùng ngực trái. T5 được mọi người đưa đi sơ cứu tại Bệnh viện Đ1 rồi chuyển đi cấp cứu tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bắc Giang với thương tích đụng dập góc trái môi dưới, vết thương mu bàn tay trái, xây sát vùng hạ sườn phải, dập não xuất huyết vùng trán trái và vùng thái dương phải, máu tụ dưới màng cứng vùng trán trái.

Sau khi sự việc xảy ra, chị T7, T5 và Lý Văn T1 đều làm đơn trình báo cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã

khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 con dao bằng kim loại, dài 35 cm, mũi dao bị gẫy, chuôi dao bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 06 cm đã qua sử dụng; 01 chiếc ghế nhựa màu vàng, loại ghế có tựa lưng, 04 chân, đã bị vỡ làm nhiều mảnh; 01 chiếc cốc thủy tinh bị vỡ, kích thước (13 x 6 x 8) cm.

Trong các ngày 06/7/2023 và 18/9/2023, cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định, giám định bổ sung đối với tỷ lệ thương tích, cơ chế hình thành thương tích, vật gây thương tích cho Nguyễn Văn T5 và Lý Văn T1.

Kết quả giám định đối với Nguyễn Văn T5

Tại Bản Kết luận giám định số 1539/23/KLTTCT-TTPY ngày 07/7/2023 và bản kết luận giám định bổ sung số 1694/23/KLTTCT-TTPY ngày 28/9/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  • - Thương tích vết sẹo niêm mạc miệng môi dưới kích thước nhỏ: 1%.
  • - Khám vùng đầu không thấy thương tích + Ô đụng dập tụ máu trong nhu mô vùng trán - thái dương phải + Phiếu chụp cắt lớp vi tính kết luận: Hình ảnh ổ tăng tỷ trọng tự nhiên (tụ máu trong não) đường kính sấp sỉ 16 mm trong nhu mô não thùy thái dương phải: 21%.
  • - Thương tích chạm thương hạ sườn phải không còn dấu vết: 0%.
  • - Thương tích vết sẹo mu bàn tay trái kích thước nhỏ + Đứt gân duỗi ngón 1 bàn tay trái + Khám vận động ngón 1 bàn tay trái kết luận: Khâu phục hồi đứt gân duỗi ngón 1 bàn tay trái tốt: 1%.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T5 tại thời điểm giám định là 23% (Hai ba phần trăm). Thương tích do vật tày gây nên.

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1539B/23/KLVGTT-TTPY ngày 13/7/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Chiếc ghế nhựa (đã bị vỡ) là vật gây ra được thương tích của anh Nguyễn Văn T5.

Kết quả giám định đối với Lý Văn T1:

Tại bản kết luận giám định số 1538/23/ KLTTCT-TTPY ngày 06/7/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  • - Thương tích vết thương đã khâu vùng cung mày phải kích thước nhỏ: 3%
  • - Thương tích vết thương đã khâu ngực trái kích thước trung bình: 2%

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Lý Văn T1 tại thời điểm giám định là: 5 %. Thương tích do vật sắc gây nên.

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1538B/23/KLVGTT-TTPY ngày 12/7/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Con dao gửi giám định là vật gây ra được thương tích cho Lý Văn T1.

Ngày 04/10/2023, Lý Văn T1 không đồng ý với kết luận giám định thương tích của Nguyễn Văn T5 và Lý Văn T1 nên đã làm đơn đề nghị giám định lại thương tích. Do T5 từ chối giám định lại nên cơ quan điều tra đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C1 giám định lại thương tích của Lý Văn T1.

Tại Bản Kết luận giám định số 7485/KL-KTHS ngày 20/10/2023 của V Bộ C1 kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Văn T1 tại thời điểm giám định lại là 05% (Năm phần trăm).

Quá trình điều tra xác định vết thương ở mu bàn tay trái của T5 là do quá trình giằng co con dao với Lý Văn T1 nên T5 đã để dao cứa vào mu bàn tay trái, đối với thương tích này T5 không có yêu cầu, đề nghị gì. Cơ quan điều tra đã làm việc với Trung tâm pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định trường hợp không tính vết thương ở mua bàn tay trái của T5 thì tổng tỷ lệ thương tích của T5 là 22%.

Đối với hành vi huỷ hoại 01 chiếc cốc thuỷ tinh và 01 chiếc ghế nhựa của T3 và Lý Văn T1. Do giá trị tài sản thấp, chị T7 và T5 không có yêu cầu đề nghị gì đối với T3 và Lý Văn T1 về hành vi này nên cơ quan điều tra không xử lý được.

Về trách nhiệm dân sự: T5 yêu cầu Lý Văn T1 và Vũ Đăng T3 bồi thường số tiền 100.000.000 đồng; Lý Văn T1 yêu cầu T5 bồi thường số tiền 3.500.000 đồng. Đến nay, Lý Văn T1, T3 chưa bồi thường, T5 đã tự nguyện nộp 3.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để bồi thường cho T1. Đối với chiếc ghế nhựa màu vàng và 01 chiếc cốc thuỷ tinh bị vỡ, chị T7 và T5 không yêu cầu T3 và Lý Văn T1 bồi thường.

Về vật chứng: 01 con dao bằng kim loại, dài 35 cm, mũi dao bị gẫy, chuôi dao bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 06 cm đã qua sử dụng; 01 chiếc ghế nhựa màu vàng, loại ghế có tựa lưng, 04 chân, đã bị vỡ làm nhiều mảnh; 01 chiếc cốc thủy tinh bị vỡ, kích thước (13 x 6 x 8) cm được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra, Lý Văn T1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Bản Cáo trạng số 19 /CT-VKSYD ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Lý Văn Tú về tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (trường hợp thuộc điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự).

* Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2024/HSST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và Quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 587, 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lý Văn T1 phải bồi thường cho Nguyễn Văn T5 số tiền 30.000.000 đồng.

Bị cáo Lý văn T10 được nhận số tiền 3.500.000đồng do Nguyễn Văn T5 đã nộp để bồi thường cho Lý Văn T1 theo biên lai thu số 0002227 ngày 24/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử phạt đối với Nguyễn Văn T11 và Nguyễn Văn T5, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

* Sau khi án sơ thẩm xử xong, ngày 20/5/2024 bị cáo Lý Văn T1 kháng cáo. Nội dung kháng cáo: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng tuyên phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

* Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo và trình bày: vào ngày 13/6/2024 bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử về tội “cố ý gây thương tích”, gây tổn thương 23% sức khoẻ cho người khác. Bị cáo bị tuyên 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù giam mà anh T5 dùng hung khí đánh, chém bị cáo T12 lại xử 09 (Chín) tháng án treo là không công bằng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Bị cáo chỉ có ý kiến về việc Toà cấp sơ thẩm xử cho anh T5 được hưởng án treo là nhẹ.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận và đề nghị HĐXX: căn cứ điểm a khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Lý Văn T1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 45/2024/HS-ST ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn T1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  • - Bị cáo tranh luận: bị không nhất trí việc xét xử của án sơ thẩm, cho bị cáo T5 được hưởng án treo
  • - Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo không trình bày gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lý Văn T1 đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Nên chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Sau khi xem xét lời khai của bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, tại quán C ở thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang của chị Nguyễn Thị T7 và Nguyễn Văn T5. Do bực tức việc

chị T7 không tiếp tục bán hàng nên Lý Văn T1 hất 04 cốc bia vào người chị T7 làm bắn bia vào người T5. Nguyễn Văn T5 chạy vào trong nhà lấy 01 con dao bằng kim loại, dài 35 cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 23 cm mang ra để chém Lý Văn T1 thì bị Vũ Đăng T3 dùng 01 chiếc ghế nhựa màu vàng đập vào đầu Nguyễn Văn T5. Lý Văn T1 vật ngã T5 nằm ngửa xuống đất, T3 đi đến dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt T5. Sau đó, Lý Văn T1 giằng co con dao với T5 thì bị con dao trên tay T5 gây thương tích cho Lý Văn T1 tại cung mày phải và vùng ngực trái, Lý Văn T1 đứng dậy dùng chân phải đạp 01 cái vào vùng trán và 01 cái vào thái dương bên trái của T5 làm T5 nằm gục xuống đất, anh Dương Văn N1 đỡ T5 dậy thì Lý Văn T1 lao đến dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt T5 và đá 01 cái vào sườn trái của T5. Hậu quả Lý Văn T1 bị thương tích ở đuôi cung mày phải và thương tích vùng ngực trái; T5 bị thương tích đụng dập góc trái môi dưới, dập não xuất huyết vùng trán trái và vùng thái dương phải, máu tụ dưới màng cứng vùng trán trái.

Bị cáo Lý Văn T1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi được quy định tại Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ, vì nguyên cớ nhỏ mà hất bia vào người chị T7, mặc dù T5 đã bị T1 vật ngã nằm ngửa xuống đất không còn khả năng chống trả mà Lý Văn T1 vẫn tiếp tục dùng chân phải đạp 01 cái vào vùng trán và 01 cái vào thái dương bên trái của T5, sau khi T5 được anh Dương Văn N1 đỡ T5 dậy thì Lý Văn T1 lại tiếp tục lao đến dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt T5 và đá 01 cái vào sườn trái của T5, gây thương tích cho T5 với tỷ lệ thương tích được giám định là 23%. Bị cáo Nguyễn Văn T5 có hành vi dùng 01 con dao gây thương tích cho Lý Văn T1 với tỷ lệ thương tích được giám định là 5% nhưng do hành vi của bị cáo xuất phát từ việc chị T7 là người cùng kinh doanh chung với T5, bị cáo T1 hất bia có bắn sang cả T5 và ném cốc bia vào tường tại quán của T5 làm Thái bực tức nên xảy ra sự việc trên.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cho rằng bị cáo bị oan, nhưng bị cáo thừa nhận hành vi đánh anh T5, và xác nhận kết luận giám định thương tích là đúng. Bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào để chứng minh bị cáo không gây thương tích cho anh T5. Căn cứ vào trích xuất video thu thập được, kết luận giám định, giấy chứng nhận thương tích lời khai của các bị cáo khác có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lý Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (trường hợp thuộc điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự), việc bị cáo kêu oan là không có căn cứ.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo kêu oan, cho rằng T5 có hành vi dùng hung khí đánh gây thương tích cho bị cáo nhưng T5 chỉ bị xử phạt án treo, còn bị cáo

lại chịu mức phạt 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù giam, tuy nhiên sau đó bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo bị cáo không kêu oan, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; bị cáo không đồng ý cho T5 được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo T1 gây thương tích cho T5 23% nên bị truy tố tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ nên Toà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo án tù giam là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Do đó Bản án sơ thẩm số 45/2024 ngày 13/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ, đúng người đúng tội, không oan sai.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Lý Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền bảo vệ sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự tại địa phương. Chỉ vì chị T7 không tiếp tục bán hàng mà bị cáo tạo ra mâu thuẫn rồi dùng vũ lực tác động vào vùng đầu của T5 gây lên thương tích cho T5 là 23%. Trong khi T5 không còn sức chống trả đã liên tiếp dùng chân đạp vào trán, thái dương, mặt của T5, hành vi của T1 có tính chất côn đồ. Do đó, phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm này.

Về nội dung bị cáo T1 trình bày: bị cáo không đồng ý cho bị cáo T5 được hưởng án treo, tuy nhiên sau khi án sơ thẩm xử xong bị cáo không kháng cáo nội dung liên quan đến T5 chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, do đó hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.2]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Bị cáo Lý Văn T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lý Văn T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo T1, T3, T5 đều xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ.

Bản án sơ thẩm căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tài sản bị cáo chiếm đoạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét xử bị cáo

Lý Văn T1 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018 và Nghị quyết 01/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[3.3]. Từ những phân tích nêu trên, HĐXX vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Văn T1.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lý Văn T1.

2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Lý Văn T1 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lý Văn T1 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hà

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CQCSĐT CA huyện Yên Dũng;
  • - VKS, TA huyện Yên Dũng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích (phúc thẩm)

  • Số bản án: 177/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Họ và tên: Lý Văn T1, sinh năm 1995; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: số nhà B, ngõ H, đường H, tổ T, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; con ông Lý Văn T2, sinh năm 1954 (đã chết); con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1966 đang lao động tại Trung Quốc; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo không bị giam giữ, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger