Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/HS-PT

Ngày: 04/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2025TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo An Gia H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo:

An Gia H, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh năm 2002 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Đánh nhạc DJ.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa.

Con ông: An Thế C, sinh năm 1970; Con bà: Bùi Thị Kiểm T, sinh năm 1972.

Vợ: Đinh Thị Thúy H1, sinh năm 1990 và 01 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án HSST số 54/2019/HS-ST ngày 11/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo 01 năm 04 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong bản án ngày 27/8/2020.

Bị bắt ngày 25/3/2024, đến ngày 03/4/2024 được tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”; ngày 26/12/2024 bị bắt tại phiên tòa sơ thẩm (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Lê Mỹ T1, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt)

- Chị Bùi Thị Thùy T2, sinh năm 2006

Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Bị cáo Bùi Đức T3, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam X (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Nội dung chính của vụ án:

An Gia H và Bùi Đức T3 là bạn bè quen biết từ nhỏ với nhau đều là người sử dụng ma túy dạng Ketamine và MDMA.

Vào ngày 23/03/2024, tại quán Bar H3 thuộc quận G, thành phố Hồ Chí Minh, H và T3 được một người bạn tên thường gọi là “H2” (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 bịch ma túy Ketamine và 02 nửa viên thuốc lắc. Ngoài ra, T3 còn được cho 01 bịch ma túy dạng nước vui. Ma túy được cho, cả hai cất giấu trong người để sử dụng cùng nhau khi có nhu cầu.

H làm nghề đánh nhạc DJ và thường thuê bàn đánh nhạc DJ của Lương Anh T4 để đi sự kiện. Sáng ngày 24/3/2024, H cũng thuê bàn đánh nhạc DJ của anh T4 để đi đánh nhạc thuê, phục vụ tiệc sinh nhật của khách tại xã G, huyện T. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, sau khi đánh nhạc xong, vì đang giận nhau với vợ nên H không có ý định về nhà mà đi thuê nhà nghỉ để ngủ qua đêm. Do sợ ma, nên H gọi điện qua messenger rủ Bùi Đức T3 đi ngủ cùng H và được H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 60B2-396.87 mang theo bàn đánh nhạc DJ qua nhà T3 để chở T3 đến thuê phòng 204 nhà nghỉ “T" thuộc ấp P, xã P, huyện Đ. Tại đây, T3 rủ H cùng sử dụng ma túy với nhau. Tính nói H thuê loa, đèn nháy, còn T3 đi tìm thêm tiếp viên nữ đến để cùng sử dụng ma túy với nhau. H sử dụng điện thoại, liên hệ qua Zalo, gọi điện và nhắn tin cho tài khoản zalo “Nguyễn Đức S” để hỏi thuê 01 loa cầm tay và 02 đèn nháy. Trong khi chờ S mang loa và đèn nháy đến thì T3 đi ra ngoài để ăn đêm và tìm thêm người về sử dụng ma túy chung. Tính sử dụng điện thoại có gắn sim số 0797.907.xxx gọi cho Bùi Thị Thùy T2 có số điện thoại 0355.152.xxx để rủ T2 và bạn của T2 là Lê Mỹ T1 đến sử dụng ma túy cùng T3 và H ở nhà nghỉ “Trường Phát”.

Trong khi chờ T3 đi ra ngoài, do đợi lâu nên H sử dụng ma túy trước. Để sử dụng ma túy, H lấy bộ bàn DJ ra kết nối với loa cầm tay và mở đèn nháy. Sau khi đã chuẩn bị âm thanh và ánh sáng xong, H lấy 01 phần nhỏ ma túy dạng Ketamine đổ ra tờ tiền giấy mệnh giá 2.000 đồng của H để hơ nóng ma túy. Ma túy sau khi hơ nóng H đổ ra khay nhựa (Khay nhựa của tủ lạnh, loại khay để chia tủ lạnh thành nhiều khoang) và dùng 01 thẻ nhựa màu đen (H tìm thấy trên nóc tủ quần áo của nhà nghỉ) để cán mịn ma túy và chia thành nhiều đường. Sau đó, H sử dụng 01 tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng đã được quấn thành ống hút (H cũng tìm thấy trên nóc tủ quần áo của nhà nghỉ cùng với thẻ nhựa) và một mình sử dụng bằng cách dùng mũi hít. H vừa sử dụng ma túy vừa đánh nhạc DJ để nghe một mình.

Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 25/03/2024, T3 cùng T2 và T1 về phòng 204 (Tính về trước, T2 và T1 đến sau). Tính lấy 02 nửa viên thuốc lắc (H để trên mặt bàn DJ) chia nhỏ thành nhiều phần cung cấp cho mọi người cùng sử dụng. Sau đó T3 tiếp tục dùng các dụng cụ H chuẩn bị trước đó để chế biến nốt số ma túy dạng Ketamine còn lại cung cấp cho mọi người cùng sử dụng. Sau khi đã sử dụng hết ma túy dạng Ketamine, T3 lấy trong người 01 bịch ma túy loại nước vui ra, trộn lẫn với nước bò húc và đổ vào 01 chai nhựa để cung cấp cho mọi người cùng sử dụng. Cả 04 đối tượng sử dụng ma túy đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày thì xong, T2 và T1 đi về, T3 và H chuyển xuống phòng 106 để ngủ. Khi chuyển phòng, T3 gom loa, đèn, bàn DJ và chai nước vui chưa sử dụng hết bỏ vào ba lô, túi xách và cầm xuống quầy lễ tân để gửi. Đến khoảng 10 giờ sáng cùng ngày, khi H và T3 đang ngủ trong phòng thì bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bát quả tang cùng tang vật. Cơ quan Công an thu giữ:

  • - T5 trên nền nhà bên trong phòng 204: 01 phần viên nén màu xanh; 01 thẻ nhựa màu đen còn bám dính chất bột màu trắng; 01 khay nhựa trên bề mặt còn bám dính chất bột màu trắng.
  • - T5 tại quầy lễ tân của nhà nghỉ B:
    • + 01 loa cầm tay, 02 đèn nháy và 01 chai nhựa bên trong chứa dung dịch màu vàng được để trong ba lô màu đen;
    • + 01 máy đánh nhạc DJ được để trong túi da màu đen.
  • - Thu trong túi quần của Bùi Đức T3 01 tờ tiền polyme mệnh giá 50.000đ, trên bề mặt còn bám dính chất bột màu trắng.
  • - Thu trong ví của An Gia H 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000đ, trên bề mặt còn bám dính chất bột màu trắng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone15 Promax màu vàng, của H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone13 màu đen củaTính.

Qua làm việc với T3 và H, Cơ quan Công an đã tiến hành làm việc đối với Lê Mỹ T1, sinh năm 2004, trú tại đường T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh và Bùi Thị Thùy T2, sinh ngày 18/03/2006, trú tại ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là hai đối tượng được H và T3 cung cấp ma túy cho sử dụng trước đó, đồng thời Cơ quan Công an đã thu giữ của T2 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8plus màu hồng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ, Bùi Đức T3 và An Gia H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

2. Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:

- Căn cứ bản Kết luận giám định số: 624/KL-KTHS ngày 02/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định:

  • + Mẫu chất màu trắng (ký hiệu M) bám dính trên 01 thẻ nhựa màu đen, 01 khay nhựa màu trắng, 01 tờ tiền giấy mệnh giá 2.000đ, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 50.000đ thu giữ của An Gia H, Bùi Đức T3 được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.
  • + 01 phần viên nén màu xanh (ký hiệu M2), được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 0,0315gam.
  • + Mẫu chất lỏng màu vàng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định có ma túy, có thể tích 220ml, loại Methaphetamine, MDMA và Nimetazepam. Hàm lượng Methaphetamine: 0,089mg/ml, khối lượng Methaphetamine: 0,0196gam; Hiện tại Phòng PC09 – Công an tỉnh Đ không xác định được hàm lượng MDMA và N.

- Căn cứ bản Kết luận giám định số: 2817/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại TP . xác định: Chất lỏng màu cam vàng đựng trong 01 chai nhựa, gửi giám định là ma túy, loại Methaphetamine, MDMA và Nimetazepam. Hàm lượng M đã được Phòng KTHS Công an tỉnh Đ trả lời trong bản Kết luận giám định số 624/KL-KTHS ngày 02/4/2024; Hàm lượng MDMA: 0,00075mg/ml. Khối lượng MDMA có trong 220ml mẫu chất lỏng là 0,15mg; Hiện tại, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh không có mẫu chuẩn Nimetazepam để tiến hành giám định hàm lượng.

- Căn cứ bản Kết luận giám định số 6158/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của V Bộ C1 xác định: Hàm lượng (nồng độ) Nimetazepham: 0,166mg/ml, tương đương khối lượng Nimetazepham: 0,0365gam.

3. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đã căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 255; khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo An Gia H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tại phiên tòa sơ thẩm (ngày 26/12/2024), được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến ngày 03/4/2024.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Bùi Đức T3 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù; T6 về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

4. Kháng cáo của bị cáo:

Ngày 02/01/2025, bị cáo An Gia H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì đã xét xử không đúng với hành vi và tội danh của bị cáo; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại hành vi và tội danh, hủy bản án sơ thẩm.

4. Quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:

Về tố tụng: Bị cáo làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định và đúng nội dung, hình thức đơn kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo, bị cáo T3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T1 và chị T2 tại cơ quan điều tra đã có cơ sở kết luận bị cáo H là người cung cấp địa điểm là phòng nghỉ của bị cáo thuê, chuẩn bị sẵn công cụ là ống hút bằng tiền polyme 50.000 đồng và tiền giấy 2.000 đồng của bị cáo, chuẩn bị âm thanh ánh sáng để cho bản thân bị cáo H và T3 cùng chị T1 và chị T2 cùng sử dụng ma túy. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo An Gia H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, tuy bị cáo thừa nhận một phần hành vi phạm tội của mình về việc thuê phòng; thuê loa, đèn nhưng mức án 08 năm 06 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo An Gia H chỉ thừa nhận một phần hành vi phạm tội về việc có thuê phòng nghỉ; thuê loa, đèn để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với bị cáo Bùi Đức T3; còn việc chị Bùi Thị Mỹ T7 và Lê Mỹ T1 đến phòng của bị cáo sử dụng ma túy là do T3 tự rủ đến, bị cáo không rủ, cũng không biết nhưng căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ như Biên bản kiểm tra ngày 25/3/2024 tại nhà nghỉ T8 (BL 69); Biên bản kiểm tra hiện trường ngày 25/3/2024 (BL 71); Biên bản kiểm tra điện thoại ngày 25/3/2024 (BL 79-82); Biên bản đối chất ngày 25/3/2024 (BL 91); Biên bản hỏi cung bị can Bùi Đức T3 ngày 03/4/2024 (BL 96-99); Biên bản hỏi cung bị can An Gia H (BL 100-105); Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Thị Thùy T2 và Lê Mỹ T1 (BL 115-120); Bản tự khai của Bùi Đức T3 và bị cáo (BL 126-127) đã đầy đủ cơ sở xác định: Vào khoảng thời gian từ 01 giờ đến 06 giờ sáng ngày 25/03/2024, tại phòng số 204, nhà nghỉ “T" thuộc ấp P - xã P - huyện Đ, An Gia H và Bùi Đức T3 đã có hành vi cùng nhau chuẩn bị ma túy, địa điểm, công cụ, phương tiện và các điều kiện cần thiết để sử dụng ma túy và cung cấp trái phép chất ma túy cho Bùi Thị Thùy T2 và Lê Mỹ T1 cùng sử dụng, trong đó bị cáo H là người cung cấp địa điểm là phòng nghỉ của bị cáo thuê, chuẩn bị sẵn công cụ là ống hút bằng tiền polyme 50.000 đồng và tiền giấy 2.000 đồng của bị cáo, chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, chơi nhạc để cho bản thân bị cáo và bị cáo T3, chị T1, chị T2 cùng sử dụng ma túy.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo An Gia H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do bị cáo tổ chức cho bị cáo T3, chị T2, chị T1 sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung “đối với hai người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an, xã hội tại địa phương mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng.

Ngoài ra, bị cáo có nhân thân đã từng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng không lấy đó làm bài học, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo nhận thấy:

Tại đơn kháng cáo, bị cáo kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm vì đã xét xử không đúng với hành vi và tội danh của bị cáo; yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại hành vi và tội danh cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo cho rằng bị cáo chỉ sử dụng ma túy cùng bị cáo T3 nên hành vi của bị cáo chỉ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét xử phạt bị cáo đúng với tính chất, mức độ, hành vi phậm tội của bị cáo.

Như đã nhận định tại phần [2] nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo một phần hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về án phí:

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo An Gia H; Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (do có tình tiết mới).

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo An Gia H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2024 đến ngày 03/4/2024.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo An Gia H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND H. Định Quán (2);
  • - VKSND H. Định Quán;
  • - CQCSĐT - CA H. Định Quán;
  • - THADS H. Định Quán;
  • - Phòng PV06 - CA tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo – Trại TGCA tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 177/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger