Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 177/2025/DS-PT

Ngày 17/03/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài

sản gắn liền trên đất, hủy hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Ý

Các Thẩm phán: Ông Ngô Mạnh Cường

Bà Trần Thị Hòa Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 316/DS-PT ngày 07 tháng 5 năm 2024, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 651/QĐ-PT, ngày 20 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Thạch C, sinh năm 1981; cư trú tại: C P, Cam den, NJ 08105-1517 (USA); vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Thạch C: Bà Phạm Thị Thiên N, sinh năm 1997; cư trú tại: Khóm H, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là người đại diện theo ủy quyền; theo Giấy ủy quyền ngày 21/7/2024; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thạch C: Luật sư Nguyễn Truyền T - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

- Bị đơn: Ông Thạch N1, sinh năm 1987; cư trú tại: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Thạch N1: Bà Thạch Thị H, sinh năm 1989; cư trú tại: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh là người đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 14/8/2023; có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thạch N1:

  1. Luật sư Nguyễn Văn N2 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn N2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Thạch Thị T1, sinh năm 1980; cư trú tại: Ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt.
  2. Ông Thạch D, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt.
  3. Bà Thạch Thị T2, sinh năm 1956. Nơi cư trú: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà T1, ông D, bà T2: Ông Thạch S, sinh năm 1987; cư trú tại: Khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh là người đại diện theo ủy quyền, theo Giấy ủy quyền ngày 31/7/2023; có mặt.

  1. Thạch Thị H, sinh năm 1989; cư trú tại: Ấp N, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; có mặt.
  2. Ngân hàng Thương mại cổ phần Á1 (A).

Người đại diện theo ủy quyền Ngân hàng Thương mại cổ phần Á1: Bà Nguyễn Thị Xuân Á, ông Phạm Sỹ H1; theo Giấy ủy quyền ngày 14/3/2025; có mặt.

- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh; vắng mặt.

- Người kháng cáo: Ông Thạch C là nguyên đơn trong vụ kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022 và ngày 25/7/2023 của nguyên đơn ông Thạch C và lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T3 Trần Thế N3 trình bày:

Ông Thạch C và ông Thạch N1 có mối quan hệ là anh em họ hàng với nhau. Trong thời gian ông C sinh sống tại Mỹ có thường xuyên gởi tiền về cho ông N1 để trang trãi cuộc sống gia đình. Đến năm 2010, ông C có gởi tiền về Việt Nam cho ông N1 để mua đất dùm cho ông C, với mục đích là xây dựng nhà nghỉ cho ông C và ông C sẽ thuê ông N1 kinh doanh nhà nghỉ dùm cho ông C để ông N1 có thu nhập. Ông C gởi tiền về cho ông N1 mua 02 thửa đất gồm: Thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Việc nhận chuyển nhượng đất là do ông N1 trực tiếp ký kết với người bán vì ông C đang định cư tại Mỹ và ông C chỉ gởi tiền về cho ông N1 để nhận chuyển nhượng đất. Sau khi nhận chuyển nhượng đất do ông C đang định cư tại Mỹ nên thống nhất thỏa thuận cho ông N1 đứng tên hai thửa đất trên dùm cho ông C, việc thỏa thuận chỉ nói miệng chứ không có làm văn bản gì cả và sau đó ông N1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên. Thời điểm ông N1 được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 186, 189 thì ông C không có khiếu nại gì về việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 186, 189 cho ông Thạch N1.

Sau đó, ông C tiếp tục gởi tiền về cho ông N1 để xây dựng nhà nghỉ dùm cho ông C trên hai thửa đất này. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cấp phép thì tiến hành xây dựng nhà nghỉ, đặt tên là “RẠCH CỦA SẼ” và đi vào hoạt động được một thời gian. Việc xin cấp phép xây dựng và đứng ra xây dựng nhà là do ông N1 trực tiếp thực hiện.

Việc ông C gởi tiền về cho ông N1 thì thông qua công ty kinh doanh dịch vụ gởi tiền từ Mỹ về Việt Nam, các giao dịch gởi tiền thì ông C không có ghi mục đích, nội dung gởi tiền về cho ông N1 nhận là để làm gì mà chỉ thể hiện số tiền gởi là bao nhiêu và người nhận là ai. Ông C chỉ cung cấp được các bản photo giao dịch gởi tiền về cho ông N1 nhận, ngoài ra không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì thêm.

Tuy nhiên, sau đó ông N1 cho rằng đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đây là tài sản của ông N1 và tự ý chuyển nhượng toàn bộ nhà và đất nêu trên cho bà Thạch Thị T1 trong khi đây là tài sản do ông C gởi tiền về nhờ ông N1 nhận chuyển nhượng và đứng tên dùm. Hiện tại hai thửa đất nêu trên bà Thạch Thị T1 đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng. Từ đó hai bên phát sinh tranh chấp.

Nay ông Thạch C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Thạch N1 vào ngày 24/7/2012 đối với thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh;
  • Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thạch N1 với bà Thạch Thị T1 đối với thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là vô hiệu;
  • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho bà Thạch Thị T1 vào ngày 01/6/2021 và 04/6/2021 đối với thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh;
  • Công nhận thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh và tài sản trên đất là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông Thạch C.

Tại kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện hiện trạng sử dụng đất bà Thạch Thị T1 có quản lý, sử dụng thửa 91 với diện tích 75,3m² thì ông Thạch C không có yêu cầu khởi kiện. Ông C chỉ khởi kiện đối với thửa 186 và thửa 189 như đã nêu tại các đơn khởi kiện có trong hồ sơ vụ án.

* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Thạch N1 và tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp của ông Thạch N1 là bà Thạch Thị H có lời trình bày:

Ông Thạch N1 thống nhất là từ trước đến nay ông Thạch C nhiều lần gởi tiền về cho ông Thạch N1 vì cả hai là anh em họ với nhau nhưng đó là số tiền ông C gởi về cho ông N1 chi tiêu trong gia đình chứ hoàn toàn không có việc ông N1 mượn hay ông C nhờ ông N1 mua đất, cất nhà dùm.

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là do ông N1 nhận chuyển nhượng của bà 6 L (đã chết) bằng nguồn tiền của ông N1 với số tiền là 80.000.000 đồng, ông N1 đã giao tiền cho bà L nhận và bà L đã bàn giao đất, làm thủ tục sang tên và ông N1 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/7/2012. Sau đó ông N1 tiến hành xây dựng nhà ở trên phần đất này và kinh doanh nhà nghỉ. Số tiền mua đất và xây dựng nhà trên đất là của ông N1 và đi vay của ngân hàng, vay bên ngoài, hoàn toàn không có việc ông C gởi tiền về cho ông N1 mua đất, cất nhà dùm.

Lúc đầu ông N1 mua thửa 186, 189 của bà 6 Lọ và có làm thủ tục sang tên, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Còn đối với thửa 91 là mua bằng giấy tay, không có làm thủ tục sang tên và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gì cả.

Sau khi sử dụng nhà, đất được một thời gian thì ông N1 có chuyển nhượng là cho bà Thạch Thị T1 với số tiền là 1.480.000.000 đồng, bà T1 đã giao đủ tiền cho ông N1 nhận và ông N1 đã bàn giao đất, làm thủ tục sang tên, hiện tại bà T1 đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang quản lý, sử dụng nhà, đất nêu trên. Trong khoảng thời gian ông N1 chuyển nhượng nhà và đất cho bà T1 thì ông C cũng có về nước, biết sự việc và không có tranh chấp gì.

Nay ông Thạch N1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thạch C vì tiền nhận chuyển nhượng đất và xây dựng nhà trên hai thửa đất nêu trên là của ông N1, hoàn toàn không có việc ông C gởi tiền về nhờ ông mua đất, cất nhà dùm.

* Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị T1 và tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp của bà Thạch Thị T1 là ông Thạch S có lời trình bày:

Thửa 186, 189 nêu trên cùng căn nhà tọa lạc trên đất có nguồn gốc là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng ông Thạch N1 và bà Thạch Thị H. Ngày 06/5/2021, bà Thạch Thị T1 có nhận chuyển nhượng hai thửa đất này cùng căn nhà tọa lạc trên đất từ ông N1 và bà H. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật và bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tọa lạc trên đất theo quy định pháp luật. Giá bà T1 nhận chuyển nhượng nhà và đất này là 1.480.000.000 đồng (tuy nhiên giá thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 186 là 50.000.000 đồng, thửa 189 là 500.000.000 đồng vì để giảm được phần nào thuế), sau đó 02 bên có khai bổ sung tổng giá trị chuyển nhượng hai thửa đất là 1.550.000.000 đồng, bà T1 đã giao đủ tiền cho ông N1 nhận và ông N1 đã bàn giao nhà và đất cho bà T1 quản lý, sử dụng từ năm 2021 cho đến nay, không ai tranh chấp. Do hiện tại bà T1 và chồng sinh sống tại ấp B, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên có nhờ cha mẹ của bà T1 là ông Thạch D và bà Thạch Thị T2 ở để trong coi nhà, đất tranh chấp dùm bà T1.

Đối với thửa 91 là ông N1 mua giấy tay của chủ đất trước, không có đứng tên quyền sử dụng đất. Đến khi bà T1 nhận chuyển nhượng thì nhà đã xây dựng cơ bản rồi nhưng chỉ làm thủ tục sang tên thửa 186 và thửa 189.

Nay bà T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có yêu cầu độc lập là yêu cầu Tòa án công nhận nhà và đất tranh chấp cho bà T1. Hiện tại hai thửa đất này bà T1 đang thế chấp để vay tiền tại ngân hàng Thương mại cổ phần Á1 - Chi nhánh tỉnh T (A) để bù đắp tài chính khoản tiền mà bà T1 nhận chuyển nhượng đất của ông N1.

* Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Thạch Thị H có lời trình bày:

Thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là do ông N1 nhận chuyển nhượng của bà 6 L (đã chết) bằng nguồn tiền của ông N1 với số tiền là 80.000.000 đồng, ông N1 đã giao tiền cho bà L nhận và bà L đã bàn giao đất, làm thủ tục sang tên và ông N1 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/7/2012. Sau đó ông N1 tiến hành xây dựng nhà ở trên phần đất này và kinh doanh nhà nghỉ. Số tiền mua đất và xây dựng nhà trên đất là của ông N1 và đi vay của ngân hàng, vay bên ngoài, hoàn toàn không có việc ông C gởi tiền về cho ông N1 mua đất, cất nhà dùm. Đây là thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà nên sáu đó vợ chồng bà có chuyển nhượng nhà đất trên cho bà Thạch Thị T1. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có làm hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật và bà T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tọa lạc trên đất theo quy định pháp luật. Giá bà T1 nhận chuyển nhượng nhà và đất này là 1.480.000.000 đồng và bà T1 đã giao đủ tiền cho vợ chồng bà nhận

* Người đại diện hợp pháp cho Ngân hàng Á1 có lời trình bày: Tháng 6/2021, bà Thạch Thị T1 có thế chấp quyền sử dụng đất thửa 186 và thửa 189 nêu trên để vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á1 (A). Quá trình giải quyết vụ án phía Ngân hàng có nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, nội dung thể hiện “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có). Trường hợp cần gia hạn thì bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải có đơn đề nghị gia hạn gửi cho Tòa án nêu rõ lý do; nếu việc đề nghị gia hạn là có căn cứ thì Tòa án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Hết thời hạn này mà người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện thì Tòa án căn cứ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, do sơ suất về hồ sơ khởi kiện nên đã quá thời hạn thông báo của Tòa án mà phía ngân hàng vẫn chưa có thể hiện việc khởi kiện hay không khởi kiện hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn của bà T1 trong cùng vụ án này. Và đến ngày 25/01/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần Á1 đã làm đơn khởi kiện gởi qua đưởng bưu điện đến Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh nhận vào ngày 01/02/2024.

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Thạch D và bà Thạch Thị T2 không có bản tự khai thể hiện ý kiến hay yêu cầu gì và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự số 05/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

Căn cứ vào các Điều 26, 34, khoản 1 Điều 37, 91, 92, 147, 157, 165, 227, 228, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 500 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 100, 179 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thạch C yêu cầu Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cho ông Thạch N1 và sau đó cấp cho bà Thạch Thị T1 đối với thửa 186, 189; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thạch N1 với bà Thạch Thị T1 vô hiệu và công nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch C.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà bà Thạch Thị T1. Bà Thạch Thị T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng tài sản trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Đất có tứ cận như sau:

    Thửa 186:

    • Hướng Đông mốc 11 - 12 giáp đường bê tông, có số đo 10,0 mét
    • Hướng Tây mốc 10 - 13 giáp thửa 189, có số đo 10,25 mét
    • Hướng Nam mốc 12 - 13 giáp thửa 228, có số đo 7,92 mét
    • Hướng Bắc mốc 10 - 11 giáp thửa 187, có số đo 8,54 mét.

    Thửa 189:

    • Hướng Đông mốc 10 - 13 giáp thửa 186, có số đo 10,25 mét
    • Hướng Tây mốc 7 - 14 giáp thửa 91, có số đo 9,42 mét
    • Hướng Nam mốc 13 - 14 giáp thửa 271 có số đo 14,55 mét, giáp thửa 228 có số đo 6,61 mét
    • Hướng Bắc mốc 7 - 10 giáp thửa 190, có số đo 21,33 mét.

    (Kèm theo Sơ đồ thửa đất tại Công văn số 1240/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T).

Đối với thửa 91, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh các bên đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 06/3/2024 ông Thạch C kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm công nhận nhà đất tại thửa 186 và thửa 189, tờ bản đồ số 18, tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Thạch C; hủy hợp đồng chuyển nhượng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Thạch N1 và sang tên bà Thạch Thị T1, yêu cầu bà Thạch Thị T1 giao trả lại nhà đất cho ông Thạch C.

Tại phiên tòa các đương sự vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thạch C trình bày: Dù không có tài liệu thể hiện ông Thạch C nhờ ông Thạch N1 sang nhượng đất, xây dựng nhà nghỉ cho ông Thạch C nhưng từ lời khai của các nhân chứng là bà con họ hàng trong gia đình của ông Thạch C và ông Thạch N1 đều xác nhận ông Thạch C gởi tiền về nhờ ông Thạch N1 mua đất đứng tên xây dựng dùm nhà nghỉ cho ông Thạch C; nhà nghỉ lấy tên là “RẠCH CỦA SẼ” là tên của cha mẹ ông Thạch C. Mặt khác, ông Thạch N1 là hộ nghèo tại địa phương không có tiền để tự sang nhượng đất xây dựng nhà nghỉ mà do ông Thạch C gởi về nhờ đứng tên dùm. Hơn nữa, khi thụ lý vụ án chưa được hòa giải ở cơ sở, sau này mới bổ sung nên chưa đủ điều kiện để thụ lý vụ án. Đề nghị áp dụng Điều 315 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án vì đánh giá chứng chưa đúng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Thạch N1 trình bày: Kháng cáo của ông Thạch C là không có căn cứ để chứng minh từ năm 2010 – 2012 ông Thạch C nhờ ông Thạch N1 đứng tên dùm nhà đất; không chứng minh được ông Thạch N1 đã nhận tiền của ông Thạch C mà chỉ cung cấp những bản pho to là không phù hợp; việc ông Thạch N1 kinh doanh nhà nghỉ 8 năm cũng không có tài liệu ăn chia lợi nhuận là không phù hợp và lời khai của nhân chứng chỉ nghe chứ không chứng kiến nên không khách quan; giá xây dựng ông Thạch N1 khai là phù hợp tại thời điểm xây dựng; nguồn tiền do ông Thạch N1 tích góp vay mượn thêm để xây dựng là phù hợp. Nay ông Thạch C không chứng minh được đề nghị bác đơn kháng cáo của ông Thạch C giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người đại điện cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà T1 và Ngân hàng trình bày: Do không có kháng cáo chỉ yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Về thủ tục tố tụng những người tiến hành tố tụng, các đương sự tuân thủ đúng theo quy định. Về nội dung kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và giải quyết đúng quy định của pháp luật; tại cấp phúc thẩm ông Thạch C là người kháng cáo không cung cấp được tài liệu để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Đơn kháng cáo của ông Thạch C đúng theo quy định của pháp luật, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhiều lần nhưng UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh; căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Thạch C cho rằng năm 2010, ông Thạch C gửi tiền từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho ông Thạch N1 và nhờ ông Thạch N1 nhận chuyển nhượng đất, xây nhà nghỉ đặt tên “RẠCH CỦA SẼ” và nhờ ông Thạch N1 đứng tên kinh doanh nên nhà nghỉ “RẠCH CỦA SẼ” trên thửa 186 và thửa 189, cùng tờ bản đồ số 18, diện tích (83,3m² + 219,1m²), tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là tài sản của ông Thạch C thì thấy:

[3.1]. Năm 2010 ông Thạch N1 nhận chuyển nhượng của bà 6 Lọ thửa 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; đến ngày 24/7/2012 ông Thạch N1 đã được UBND huyện C cấp Giấy CNQSDĐ hai thửa đất trên vào ngày 24/7/2012.

[3.2]. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm ông Thạch N1 và bà H đều thừa nhận từ năm 2010 ông Thạch C có gửi tiền USD từ Hoa Kỳ về Việt Nam cho ông Thạch N1 và bà Sơn Thị Phi . Tuy nhiên, ông Thạch N1 và bà H không thừa nhận đây là tiền do ông Thạch C nhờ ông Thạch N1 sang nhượng đất, xây dựng nhà nghỉ cho ông Thạch C. Hơn nữa, các tài liệu gửi tiền cho ông Thạch N1 và bà Sơn Thị P không ghi mục đích ông Thạch C gửi tiền cho ông Thạch N1, bà Sơn Thị Phi . Do đó, chưa đủ cơ sở để xác định nhà đất hai bên tranh chấp thuộc quyền sử dụng và sở hữu của ông Thạch C nhờ ông Thạch N1 đứng tên dùm. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác đơn khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và sở hữu nhà của ông Thạch C đối với ông Thạch N1 là phù hợp.

[3.3]. Ông Thạch C từ Mỹ về tham dự tân gia nhà; nhà nghỉ đặt tên là “RẠCH CỦA SẼ” và bà con họ hàng nghe nói Thạch Nhẫn chuyển nhượng đất, xây dựng nhà nghỉ đứng tên dùm cho ông Thạch C nhưng ông Thạch N1 không thừa nhận và ông Thạch C cũng không cung cấp được tài liệu để chứng minh ông N1 đứng tên dùm nhà đất cho ông Thạch C, nên các tình tiết trên không phải là chứng cứ để chấp nhận đơn khởi kiện của ông Thạch C. Ông Thạch C được quyền khởi kiện đòi lại số tiền mà ông Thạch C đã gửi cho ông Thạch N1 theo quy định của pháp luật.

[3.4]. Từ đó không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng ngày 06/5/2021 giữa bà Thạch Thị T1 với ông Thạch N1 và bà Thạch Thị H đối với thửa đất số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng toàn bộ tài sản trên đất.

[4]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Thạch C là không phù hợp; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Do đó, bác đơn kháng cáo của ông Thạch C; giữ nguyên bản án sơ thẩm nên ông Thạch C phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Thạch C; giữ nguyên Bản án dân sự số 05/2024/DS-ST ngày 01/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh như sau:

Căn cứ Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 91, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 500 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, Điều 179 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thạch C yêu cầu Tòa án giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cho ông Thạch N1 và sau đó cấp cho bà Thạch Thị T1 đối với thửa 186, 189; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Thạch N1 với bà Thạch Thị T1 vô hiệu và công nhận quyền sử dụng đất cho ông Thạch C.
  2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Thạch Thị T1. Bà Thạch Thị T1 được tiếp tục quản lý, sử dụng thửa số 186, diện tích 83,3m² và thửa 189, diện tích 219,1m², cùng tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh cùng tài sản trên đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Đất có tứ cận như sau:

    Thửa 186:

    • Hướng Đông mốc 11 - 12 giáp đường bê tông, có số đo 10,0 mét
    • Hướng Tây mốc 10 - 13 giáp thửa 189, có số đo 10,25 mét
    • Hướng Nam mốc 12 - 13 giáp thửa 228, có số đo 7,92 mét
    • Hướng Bắc mốc 10 - 11 giáp thửa 187, có số đo 8,54 mét.

    Thửa 189:

    • Hướng Đông mốc 10 - 13 giáp thửa 186, có số đo 10,25 mét
    • Hướng Tây mốc 7 - 14 giáp thửa 91, có số đo 9,42 mét
    • Hướng Nam mốc 13 - 14 giáp thửa 271 có số đo 14,55 mét, giáp thửa 228 có số đo 6,61 mét
    • Hướng Bắc mốc 7 - 10 giáp thửa 190, có số đo 21,33 mét.

    (Kèm theo Sơ đồ thửa đất tại Công văn số 1240/VPĐKĐĐ-KTĐC ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T).

Đối với thửa 91, tở bản đồ số 18, tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh các bên đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

  1. Về chi phí thẩm định, định giá: Số tiền là 4.128.000 đồng.

    Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông Thạch C phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá là 4.128.000 đồng. Ông Thạch C đã nộp đủ và đã chi xong.

  2. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông Thạch C phải nộp 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông C đã nộp là 21.000.000₫ (Hai mươi mốt triệu đồng) tại Biên lai thu tiền số 0014836 ngày 28/02/2023 do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh thu, ông C được nhận lại số tiền chênh lệch là 20.400.000₫ (Hai mươi triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Ông Thạch N1, bà Thạch Thị T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Thạch Thị T1 tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng số 0018015 ngày 08/8/2023 do bà T1 nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Thạch C phải chịu 300.000 đồng; khấu trừ 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002581 ngày 14/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

III. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Mạnh C1 - T

Đặng Văn Ý

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, HS, NTTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Ý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 177/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Thạch C kiện ông Thạch N1 về Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền trên đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger