Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HS-ST

Ngày: 26 – 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân
1. Bà Nguyễn Thị Rạt;
2. Ông Nguyễn Chí Lin.
Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 187/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 187/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Tạ Văn L, sinh ngày 11/01/2004 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, không rõ năm sinh và bà Tạ Thanh T, sinh năm 1985; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Tạ Văn L 01 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tạ Văn L chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/12/2023, chưa chấp hành án phí và tiền nộp phạt sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/7/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).

- Bị hại: Bà Viên Thị Lệ T1, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: A B, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1967 (vắng mặt);
2. Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1973 (vắng mặt);
3. Ông Nguyễn Anh P, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
4. Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1972 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:
1. Bà Phan Thị L1, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: A, tỉnh lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Hoàng Thị Hoài O, sinh năm 2002 (vắng mặt);
Địa chỉ: 1, tỉnh lộ 10, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 20 ngày 28/7/2024, Tạ Văn L đang ở tại nhà trọ “N" thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, hỏi mượn xe mô tô Honda Vision, biển số 62P2 – 195.10 của Nguyễn Anh P để đi giặt đồ và nói với P là về nhà cha đẻ tại ấp E, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, Pháp đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe từ xã X về nhà trọ Nguyễn Cương . Khi đi ngang cửa hàng buôn bán điện thoại di động biển hiệu “Ánh Dương” thuộc ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Le dừng xe mô tô 62P2-195.10 ngoài vỉa hè, cách cửa hàng khoảng 5m, đi bộ vào gặp chủ cửa hàng hỏi mua 01 điện thoại Iphone 12 promax. Lúc này, chủ cửa hàng là Viên Thị Lệ T1 trả lời không còn điện thoại iphone 12 promax nên có đưa cho L 01 điện thoại iphone 13 promax, 128 GB, màu vàng, giá là 19.000.000 đồng. L đồng ý mua và để T1 gắn sim số 0876015771 (của L) vào điện thoại. T1 nói nếu đồng ý mua sẽ tặng cho L 01 ốp lưng điện thoại cùng 01 tờ tiền mệnh giá 1 đô la USD, đặt kèm vào ốp lưng điện thoại. Lẹ tiếp tục kêu T1 bán thêm 01 tai nghe điện thoại. Khi T1 quay mặt vào trong lấy tai nghe thì L nhanh chóng lấy điện thoại Iphone 13 Promax bỏ vào trong túi quần và nhanh chóng di chuyển ra xe mô tô 62P2- 195.10, nổ máy chạy đi. Phát hiện sự việc, T1 truy hô cướp, cướp nhưng không truy đuổi kịp. Sau đó, T1 đến Công an xã Đ, trình báo vụ việc.

Sau khi chiếm đoạt được tài sản của T1, L đem điện thoại Iphone 13 promax về phòng trọ tại nhà trọ N, mang xe mô tô 62P2- 195.10 trả cho Nguyễn Anh P. Đến ngày 29/7/2024, L bị Công an xã Đ kiểm tra nơi ở, thu giữ vật chứng. Quá trình điều tra, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 78/KL.HĐĐGTS, ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: “Kết luận về giá tài sản của hội đồng: Thống nhất định giá tài sản: 14.074.249 đồng”.

Về vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu apple loại Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128G, ốp lưng trong suốt của điện thoại di động Iphone 13 Promax, 01 tờ tiền mệnh giá 1 USD, là tài sản hợp pháp của bị hại Viên Thị Lệ T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số 1614 ngày 14/8/2024.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Vision màu đỏ, biển số: 62P2 – 195.10, số máy: JK03E6028843, số khung: RLHJK0318MZ316590, là tài sản hợp pháp của Trần Thị Đ (là mẹ ruột của Nguyễn Anh P). Kết quả điều tra, Đ và P không biết hành vi chiếm đoạt tài sản của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 1620 ngày 28/8/2024, trả lại cho chủ sở hữu Đ.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa ra Quyết định chuyển vật chứng, chuyển 01 sim số 0876015771 đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý, chờ xử lý.

Phần dân sự: Bị hại Viên Thị Lệ T1 không yêu cầu bị cáo L bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 179/CT- VKSĐH ngày 08/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố, không đưa ra chứng cứ nào để minh oan, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra. Đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Tạ Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Tạ Văn L mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu apple loại Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128G, ốp lưng trong suốt của điện thoại di động Iphone 13 Promax, 01 tờ tiền mệnh giá 1 USD, là tài sản hợp pháp của bị hại Viên Thị Lệ T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1614 ngày 14/8/2024 là phù hợp nên đề nghị không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Vision màu đỏ, biển số: 62P2 – 195.10, số máy: JK03E6028843, số khung: RLHJK0318MZ316590, là tài sản hợp pháp của Trần Thị Đ (là mẹ ruột của Nguyễn Anh P). Kết quả điều tra, Đ và P không biết hành vi chiếm đoạt tài sản của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 1620 ngày 28/8/2024, trả lại cho chủ sở hữu Đ là phù hợp nên đề nghị không xem xét.

Đối với 01 sim số 0876015771 không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Viên Thị Lệ T1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên đề nghị không xem xét.

Đối với Trần Thị Đ, Nguyễn Anh P là chủ sở hữu hợp pháp và người cho L mượn xe ô tô 62P2-195.10. Đ và P không biết đến hành vi chiếm đoạt tài sản của L nên không cấu thành tội phạm liên quan.

Đối với chủ nhà trọ Nguyễn C1 là Nguyễn Chí C1, cho thuê phòng trọ số C, nơi Lẹ cất giấu tài sản chiếm đoạt. C1 không biết đến hành vi chiếm đoạt tài sản của L nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Văn L khai nhận: Khoảng 21 giờ 20 ngày 28/7/2024, do không có việc làm lại muốn có tiền tiêu xài nên Tạ Văn L nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, L điều khiển xe mô tô Honda Vision, biển số 62P2 – 195.10 đến cửa hàng điện thoại di động “Á" tại ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An do Viên Thị Lệ T1 làm chủ, hỏi mua iphone 13 promax, trị giá 14.074.249 đồng. T1 báo giá là 19.000.000 đồng, L đồng ý mua nên T1 gắn sim số 0876015771 (của L) vào điện thoại, tặng kèm 01 ốp lưng điện thoại, 01 tờ tiền mệnh giá 1 đô la USD. Sau đó, L2 kêu T1 bán thêm 01 tai nghe điện thoại. Khi T1 quay vào trong lấy tai nghe thì L lợi dụng sơ hở, nhanh chóng chiếm đoạt điện thoại Iphone 13 Promax và nhanh chóng điều khiển xe mô tô 62P2- 195.10 tẩu thoát. Sau đó, vụ việc bị phát hiện xử lý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố bị cáo Tạ Văn L theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Tạ Văn L gây ra là nguy hiểm, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là cướp giật tài sản của bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó sẽ gây ra nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2023/HS-ST ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Tạ Văn L 01 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích. Bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Tạ Văn L thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét áp dụng mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.

[5] Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu apple loại Iphone 13 Promax màu vàng dung lượng 128G, ốp lưng trong suốt của điện thoại di động Iphone 13 Promax, 01 tờ tiền mệnh giá 1 USD, là tài sản hợp pháp của bị hại Viên Thị Lệ T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho T1 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 1614 ngày 14/8/2024 là phù hợp nên không xem xét.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Vision màu đỏ, biển số: 62P2 – 195.10, số máy: JK03E6028843, số khung: RLHJK0318MZ316590, là tài sản hợp pháp của Trần Thị Đ (là mẹ ruột của Nguyễn Anh P). Kết quả điều tra, Đ và P không biết hành vi chiếm đoạt tài sản của L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng số 1620 ngày 28/08/2024, trả lại cho chủ sở hữu Đ là phù hợp không xem xét.

Đối với 01 sim số 0876015771 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định pháp luật.

Đối với Trần Thị Đ, Nguyễn Anh P là chủ sở hữu hợp pháp và người cho L mượn xe ô tô 62P2-195.10. Đ và P không biết đến hành vi chiếm đoạt tài sản của L nên không cấu thành tội phạm liên quan.

Đối với chủ nhà trọ Nguyễn C1 là Nguyễn Chí C1, cho thuê phòng trọ số C, nơi Lẹ cất giấu tài sản chiếm đoạt. C1 không biết đến hành vi chiếm đoạt tài sản của L nên không cấu thành tội phạm có liên quan.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Viên Thị Lệ T1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Tạ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự;
    Căn cứ vào khoản 1, 3 Điều 329; Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
  2. Tuyên bố bị cáo Tạ Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
    Xử phạt bị cáo Tạ Văn L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/7/2024.
    Tiếp tục tạm giam bị cáo Tạ Văn L 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/11/2024).
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0876015771
    Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 30-08/11/2024 ngày 08/11/2024.
  4. Về án phí: Bị cáo Tạ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đức hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Tho

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hình sự (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 177/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Văn Lẹ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger