TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 177/2024/HS-ST Ngày 18 - 11 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Phạm Hữu Thắng. |
| Ông Đào Khel. |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 165/2024/QĐXXST - HS ngày 05/11/2024 đối với các bị cáo:
- Đoàn Trọng N, sinh ngày: 19/9/1994 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số D đường M, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nơi ở hiện nay: số C đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn N1 (chết) và bà Trần Thị Đ; vợ, con chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: vào ngày 21/9/2017 và ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 04 năm 09 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án xong vào ngày 21/10/2021, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- Lê Thanh K, sinh ngày: 10/01/1996 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số E đường V, Khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh T và bà Bành Thị Ngọc O; vợ, con chưa có; tiền án: vào ngày 20/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xử phạt 04 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 16/6/2023; tiền sự: không; nhân thân: vào ngày 30/10/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 08 tháng tù, về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 27/02/2013; Lần thứ hai, vào ngày 11/12/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về Tội cướp giật tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 02/11/2017, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/02/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
- - Bị hại: Nguyễn Thị S, sinh năm 1962. Nơi cư trú: số A đường D, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Nơi ở hiện nay: Nhà trọ phòng số 3, số C đường L, Khóm C, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 02 năm 2024, Đoàn Trọng N rủ Lê Thanh K tìm tài sản của người khác để cướp giật. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 83P2-032.04 của N chở K đi trên một số tuyến đường trên địa bàn thành phố S. Khi đi qua đường D, phường C, thành phố S, theo hướng từ đường T về đường V, đến khu vực trước nhà số A, đường D, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, N phát hiện bà Nguyễn Thị S (S) đang quét sân ở khu vực trước nhà, trên cổ bà S có đeo hai sợi dây chuyền vàng, trong đó 01 sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu dây chữ cong, trọng lượng 2,62 chỉ và sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu mắt xích, trọng lượng 28 chỉ, có mặt dây chuyền vàng 17k, hình tròn, cẩn hột màu trắng, trọng lượng 03 chỉ, nên N rủ K chiếm đoạt, thì K đồng ý.
Lúc này N điều khiển cho xe chạy khỏi khu vực nhà bà S, sau đó cho xe quay đầu lại và dùng xe gần chỗ bà S đang quét sân, đầu xe hướng ra đường T, N ngồi trên xe, còn K bước xuống xe đi vòng ra phía sau lưng của bà S, nhanh chóng tiếp cận bà S, sau đó từ phía sau K dùng tay trái giật lấy được hai sợi dây chuyền bà S đang đeo trên cổ rồi nhanh chóng chạy ra xe, sau đó N chở K về nhà trọ của N tại số C, đường L, Khóm B, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi về nhà, K lấy sợi dây chuyền vàng trọng lượng 28 chỉ đưa cho Nguyễn Thị Ngọc H, nhờ H đem đi bản dùm, sau đó H đem đến tiệm V1, đường N, Phường A, thành phố S bán cho ông Quách Thiện D được 84.840.000 đồng. Sau khi bán vàng, H đem tiền về nhà trọ đưa lại cho K, sau đó K cho H 500.000 đồng, chia cho N số tiền 42.000.000 đồng. Đến khoảng hơn 14 giờ 00 phút, cùng ngày, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên N điều khiển xe đến hẻm C, đường T, Khóm B, Phường E, thành phố S, vào trong hẻm một đoạn gặp người thanh niên (Không rõ họ tên và địa chỉ) hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. Sau khi có ma túy, N đem về nhà trọ lấy một ít ra sử dụng, số ma túy còn lại N cất giấu trong bóp da, sau đó để trong cốp xe mô tô biển số 83P3-541.98. Còn bà S, sau khi bị K và N cướp giật 02 sợi dây chuyền vàng, đã đến Công an trình báo sự việc. Sau đó Công an triệu tập K và N làm việc, tại Công an K1 và N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N tại phòng trọ số 3, nhà trọ số C, đường L, khóm B, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Qua khém xét Công an thu giữ: 01 tờ giấy lịch, được gói lại, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 01 cái áo khoát sọc đen chấm bi có hiệu ESSENTIALS; 01 cái áo khoát có hai mặt (một mặt màu xám, một mặt màu đen) có chữ LADOS; 01 cái quần thun ống dài màu đen; 01 cái nón lưỡi trai sọc trắng đen; 01 cái nón bảo hiểm màu đen có chữ a gu; 01 cái nón bảo hiểm màu trắng có dán băng keo màu đen có chữ Seuderia Ferrari; 01 cái khẩu trang bằng vải sọc ca rô màu nâu; 01 cây dao bằng kim loại dài 25cm có quấn băng keo màu trắng; 01 đôi dép quai ngang bằng nhựa màu đen bạc, có chữ Nike; 01 đôi dép kẹp màu nâu đen, có chữ Lacoste; 01 thẻ giữ xe của công ty V2 màu trắng đỏ; 01 bóp da màu nâu hiệu Boss; Tiền Việt Nam 550.000 đồng; 01 tờ giấy lịch được gói lại bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô Wave alpha, màu trắng, biển số 83P3-541.98, số khung: RLHHC09047Y163873, số máy: HC09E5263460; 01 bình xịt hơi cay màu xanh, có dòng chữ trên thân bình AMERICAN STYLE, NATO, SUPER-PARALISANT; 01 cây dao bằng kim loại dài 28cm có cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIR BLADE, màu đen, biển số 83P2- 03204, số khung: RLHKF4105LZ602941, số máy: KF41E-0107141và 01 cái áo thun cổ tròn màu xanh dương có in dòng chữ Realmadrid.
Tại bản kết luận giám định số 1565/KL-KTHS ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- - 01 (một) vòng kim loại màu vàng dạng trơn, khối lượng: 13,6954 gam (ký hiệu M1.1) được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 95,00%.
- - 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng: 5,6238 gam (ký hiệu M1.2) được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 93,80%.
- - 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng, tổng khối lượng: 1,8639 gam (ký hiệu M1.3) được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 72,03%.
- - 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng, khối lượng: 9,7901 gam (ký hiệu M2) được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 75,17%.
- - 01 (một) đoạn kim loại màu vàng, khối lượng: 0,7225 gam (ký hiệu M3) được niêm phong, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au). Hàm lượng Vàng: 72,05%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐG ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, kết luận:
- - 01 (một) sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu dây chữ cong, trọng lượng 2,62 chỉ, với giá 4.845.500 đồng/chỉ x 2,62 chỉ = 12.695.210 đồng.
- - 01 (một) sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu mắt xích, trọng lượng 2,8 lượng (tương đương 28 chỉ), với giá 4.845.500 đồng/chỉ x 28 chỉ = 135.674.000 đồng.
- - 01 (một) mặt dây chuyền vàng 17k, hình tròn, có cần hột màu trắng, trọng lượng 3 chỉ, với giá 4.845.500 đồng/chỉ x 3 chỉ 14.536.500 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 30/KLMT-KTHS ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1399 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 168/CT-VKSTPST ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Đoàn Trọng N về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), truy tố bị cáo Lê Thanh K về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thanh K phạm tội “Cướp giật tài sản";
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự về tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Đoàn Trọng N từ 05 năm đến 06 năm tù.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo Đoàn Trọng N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt cho bị cáo N.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự về tội “Cướp giật tài sản”, xử phạt bị cáo Lê Thanh K từ 05 năm đến 06 năm tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) gói niêm phong vụ số 30/2024 ngày 11/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S1, Nguyễn Văn Đ1, Lâm Thùy D1 và Lê Trọng Q.
- + 01 (một) cái áo khoát sọc đen chấm bi có hiệu ESSENTIALS.
- + 01 (một) cái áo khoát có hai mặt (một mặt màu xám, một mặt màu đen) có chữ LADOS.
- + 01 (một) cái quần thun ống dài màu đen.
- + 01 (một) cái nón lưỡi trai sọc trắng đen.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu đen có chữ a gu.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng có dán băng keo màu đen có chữ Seuderia Ferrari.
- + 01 (một) cái khẩu trang bằng vải sọc ca rô màu nâu.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 25cm có quấn băng keo màu trắng.
- + 01 (một) đôi dép quai ngang bằng nhựa màu đen bạc, có chữ Nike.
- + 01 (một) đôi dép kẹp màu nâu đen, có chữ Lacoste.
- + 01 (một) cái áo thun cổ tròn màu xanh dương có in dòng chữ Realmadrid.
- + 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh, có dòng chữ trên thân bình AMERICAN STYLE, NATO, SUPER-PARALISANT.
- + 01 (một) cái ví da màu đen.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 28cm có cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng.
- - Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H: 01 (một) đôi bông tai bằng kim màu vàng.
- - Giao, trả cho bà Nguyễn Thị S:
- + 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn.
- + 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 49cm.
- + Tiền Việt Nam 45.840.000₫ (bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Giao cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S:
- + 01 (một) xe mô tô Wave alpha, màu trắng, số khung: RLHHC09047Y163873, số máy: HC09E5263460.
- + 01 (một) biển số 83P2-03204.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại bà Nguyễn Thị S: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, nhưng đồng ý nhận số tiền Việt Nam 45.840.000 đồng và 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn, có giá trị tương ứng 33.000.000 đồng, tổng số tiền còn lại bà S buộc các bị cáo khắc phục là 21.160.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc H: Tại phiên tòa bà H đề nghị giao cho bà S 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn, có giá trị tương ứng 33.000.000 đồng và số tiền 5.790.000 đồng bị thu giữ để cho bị cáo N khắc phục về trách nhiệm dân sự theo yêu cầu bị hại. Bà H xin nhận lại 01 (một) đôi bông tai bằng kim màu vàng do không liên quan vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 17 tháng 02 năm 2024, bị cáo Đoàn Trọng N rủ bị cáo Lê Thanh K tìm tài sản của người khác để cướp giật thì K đồng ý. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển số 83P2 - 032.04 của N chở K đi trên một số tuyến đường trên địa bàn thành phố S. Khi đi qua đường D, đến khu vực trước nhà số A, đường D, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo N và bị cáo K đã thực hiện hành vi cướp giật hai sợi dây chuyển vàng và 01 mặt dây chuyền vàng, trong đó sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu dây chữ cong, trọng lượng 2,62 chi, có giá 12.695.210 đồng; Sợi dây chuyền vàng 17k, kiểu mắt xích, trọng lượng 2,8 lượng (tương đương 28 chỉ), có giá 135.674.000 đồng; 01 mặt dây chuyền vàng 17k, hình tròn, có cần hột màu trắng, trọng lượng 3 chỉ, có giá 14.536.500 đồng. Tổng tài sản bị cáo N và bị cáo K chiếm đoạt có giá 162.905.710 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra nên hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Điểm c khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
Bị cáo N còn có hành vi tàng trữ 0,1399 gam ma túy, loại Methamphetamine, nhằm mục đích để sử dụng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
[3] Đây là vụ án có hai bị cáo tham gia, nhưng trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên không phạm tội có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Trong đó vai trò của từng bị cáo được xác định như sau: Bị cáo Nghĩa là người rủ rê bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Nghĩa là người thực hành tích cực, còn bị cáo K là người giúp sức.
[4] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Đối với bị cáo Đoàn Trọng N: Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền sự, tiền án, về nhân thân cụ thể, vào ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án xong vào ngày 21/10/2021, đã được xóa án tích.
Đối với bị cáo Lê Thanh K: Trước khi phạm tội, bị cáo chưa có tiền sự, nhưng có 03 lần tiền án, cụ thể: Lần thứ nhất, vào ngày 30/10/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 08 tháng tù, về Tội trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 27/02/2013; Lần thứ hai, vào ngày 11/12/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về Tội cướp giật tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 02/11/2017, đã được xóa án tích; Lần thứ ba, vào ngày 20/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xử phạt 04 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 16/6/2023, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, vào ngày 27/5/2024 bị cáo bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, khởi tố về tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, các bị cáo có trình độ học vấn thấp đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Vế trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng, nhưng bị hại đồng ý nhận số tiền Việt Nam 45.840.000 đồng và 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn, có giá trị tương ứng 33.000.000 đồng, tương ứng với số tiền 78.840.000 đồng, số tiền còn lại bà S buộc các bị cáo khắc phục là 21.160.000 đồng, các bị cáo N và bị cáo K đồng ý bồi thường cho bị hại nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với vật chứng:
- + 01 (một) gói niêm phong vụ số 30/2024 ngày 11/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S1, Nguyễn Văn Đ1, Lâm Thùy D1 và Lê Trọng Q cần tịch thu tiêu huỷ.
- + 01 (một) gói niêm phong vụ số 30/2024 ngày 11/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S1, Nguyễn Văn Đ1, Lâm Thùy D1 và Lê Trọng Q.
- + 01 (một) cái áo khoát sọc đen chấm bi có hiệu ESSENTIALS.
- + 01 (một) cái áo khoát có hai mặt (một mặt màu xám, một mặt màu đen) có chữ LADOS.
- + 01 (một) cái quần thun ống dài màu đen.
- + 01 (một) cái nón lưỡi trai sọc trắng đen.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu đen có chữ a gu.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng có dán băng keo màu đen có chữ Seuderia Ferrari.
- + 01 (một) cái khẩu trang bằng vải sọc ca rô màu nâu.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 25cm có quấn băng keo màu trắng.
- + 01 (một) đôi dép quai ngang bằng nhựa màu đen bạc, có chữ Nike.
- + 01 (một) đôi dép kẹp màu nâu đen, có chữ Lacoste.
- + 01 (một) cái áo thun cổ tròn màu xanh dương có in dòng chữ Realmadrid.
- + 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh, có dòng chữ trên thân bình AMERICAN STYLE, NATO, SUPER-PARALISANT.
- + 01 (một) cái ví da màu đen.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 28cm có cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng.
Xét thấy, đây là hàng cấm và các vật dụng không còn giá trị sử dụng, các bị cáo yêu cầu không nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
[5.2] Đối với vật chứng là 01 (một) đôi bông tai bằng kim màu vàng không liên quan vụ án trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H.
[5.3] Đối với vật chứng là:
- + 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn.
- + 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 49cm.
- + Tiền Việt Nam 45.840.000₫ (bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Xét thấy, vật chứng trên là của bị hại, các bị cáo và người liên quan đồng ý giao cho bị hại để khắc phục trách nhiệm dân sự, bị hại đồng ý nhận nên Hội đồng xét xử ghi nhận là giao, trả lại cho bị hại S.
[5.4] Đối với vật chứng là:
- + 01 (một) xe mô tô Wave alpha, màu trắng, số khung: RLHHC09047Y163873, số máy: HC09E5263460.
- + 01 (một) biển số 83P2-03204.
Giao cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm có nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với Nguyễn Thị Ngọc H, là người đem bán sợi dây chuyền vàng do bị cáo N và bị cáo K cướp giật của bị hại, do khi bị cáo K nhờ H đem sợi dây chuyền vàng đem đi bán, bị cáo K không nói cho H biết do cướp giật có được, bản thân H cũng không biết dây chuyền vàng do K và N do phạm tội mà có, nên hành vi của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[8] Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho bị cáo N, do N không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên chưa mời làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[9] Đối với Quách Thiện D là chủ tiệm V1, khi mua sợi dây chuyền vàng do Nguyễn Thị Ngọc H đem đến bán, D không biết sợi dây chuyển vàng do bị cáo N và bị cáo K cướp giật có được, nên không xem xét xử lý đối hành vi của D.
[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 171; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đoàn Trọng N.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Thanh K.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 584 và khoản 1 Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Trọng N phạm tội “Cướp giật tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Thanh K phạm tội “Cướp giật tài sản".
- Xử phạt bị cáo Đoàn Trọng N 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cả hai tội bị cáo phải chấp hành chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
- Xử phạt bị cáo Lê Thanh K 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/02/2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) gói niêm phong vụ số 30/2024 ngày 11/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S1, Nguyễn Văn Đ1, Lâm Thùy D1 và Lê Trọng Q.
- + 01 (một) cái áo khoát sọc đen chấm bi có hiệu ESSENTIALS.
- + 01 (một) cái áo khoát có hai mặt (một mặt màu xám, một mặt màu đen) có chữ LADOS.
- + 01 (một) cái quần thun ống dài màu đen.
- + 01 (một) cái nón lưỡi trai sọc trắng đen.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu đen có chữ a gu.
- + 01 (một) cái nón bảo hiểm màu trắng có dán băng keo màu đen có chữ Seuderia Ferrari.
- + 01 (một) cái khẩu trang bằng vải sọc ca rô màu nâu.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 25cm có quấn băng keo màu trắng.
- + 01 (một) đôi dép quai ngang bằng nhựa màu đen bạc, có chữ Nike.
- + 01 (một) đôi dép kẹp màu nâu đen, có chữ Lacoste.
- + 01 (một) cái áo thun cổ tròn màu xanh dương có in dòng chữ Realmadrid.
- + 01 (một) bình xịt hơi cay màu xanh, có dòng chữ trên thân bình AMERICAN STYLE, NATO, SUPER-PARALISANT.
- + 01 (một) cái ví da màu đen.
- + 01 (một) cây dao bằng kim loại dài 28cm có cán màu đen, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng.
- - Trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc H: 01 (một) đôi bông tai bằng kim màu vàng.
- - Giao, trả cho bà Nguyễn Thị S:
- + 01 (một) chiếc vòng tay kim loại màu vàng, kiểu tròn trơn.
- + 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng dài 49cm.
- + Tiền Việt Nam 45.840.000 đồng (bốn mươi lăm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
- - Giao cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S:
- + 01 (một) xe mô tô Wave alpha, màu trắng, số khung: RLHHC09047Y163873, số máy: HC09E5263460.
- + 01 (một) biển số 83P2-03204 làm rõ xử lý theo pháp luật.
- - Tịch thu tiêu hủy:
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Đoàn Trọng N và bị cáo Lê Thanh K liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị S số tiền 21.160.000 đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Về án phí: Buộc bị cáo N và bị cáo K mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo N và bị cáo K liên đới phải chịu 1.058.000 (một triệu không trăm năm mươi tám nghìn đồng); mỗi bị cáo phải chịu 529.000 đồng (năm trăm hai mươi chín nghìn đồng).
- Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 177/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
