|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/HS-PT Ngày: 15-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ và bà Trần Thị Thúy Hà.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 246/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T, do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Kiều L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 253/2024/QĐXXPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 35/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2024.
Bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc T, tên gọi khác: không, sinh ngày 01/7/2006, nơi sinh tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành A và bà Nguyễn Thị Thúy A1; Tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt;
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1985; bà Nguyễn Thị Thúy A1, sinh năm 1986; cùng cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (ông A, bà Thúy A1 có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo: bà Lê Hồ Bích H, Trợ Giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A; địa chỉ: Số H L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt);
Bị hại: bà Đinh Thị N, sinh năm 1956, đã chết.
Đại diện hợp pháp của bị hại: bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kiều L: Luật sư Nguyễn Minh L1 - Văn phòng L3, Đoàn L2 sự tỉnh An Giang (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1995; nơi cư trú: tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt);
- Em Lê Anh T1, sinh ngày 10/08/2006; nơi cư trú: tổ F, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của em Lê Anh T1: ông Lê Phú C, sinh năm 1984; nơi cư trú: tổ F, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
(Ngoài ra trong vụ án bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Anh T1 không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị)
N ỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/9/2023, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 01/7/2006 điều khiển xe gắn máy biển số 67AE - 055.48 chạy trên đường L hướng từ phường T đi phường A. Khi đến đoạn đường thuộc tổ A, khóm X, phường T, thị xã T do thiếu chú ý quan sát, nên T đã va chạm vào bà Đinh Thị N đang đi bộ cùng chiều phía trước gây tai nạn, làm bà N ngã ra đường bị thương tích. Sau đó, bà N được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ tỉnh An Giang, rồi chuyển đến Bệnh viện A2 - Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Đến ngày 22/9/2023, bà N tử vong.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe gắn máy biển số 67AE – 055.48, màu sơn: Xanh, nhãn hiệu: ESPERO, số máy: VDEJQ139FMB8351184, số khung: RPEGCBEPEМА351184.
* Bản kết luận giám định tử thi số 76 /KLGĐTT-PC09 ngày 23/9/2023, của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận giám định đối với bà Đinh Thị N:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Bầm máu, sưng nề vùng đỉnh chẩm bên phải, kích thước (12x8) cm; Bầm tụ máu dưới da vùng đỉnh – chẩm, thái dương phải; Nứt sọ vùng chẩm, dài 5cm; Máu tụ dưới màng cứng vùng trán – thái dương phải; Xuất huyết dưới nhện lan toả hai bán cầu;
- Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não nặng (nứt sọ, máu tụ dưới màng cứng, xuất huyết dưới nhện).
Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTB-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 98 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/8/2024).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/8/2024 đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T, không chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo và bồi thường thực tế cho gia đình bị hại chi phí cứu chữa, mai táng, mồ mả, tổn thất tinh thần.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo xin được hưởng án treo để được tiếp tục đi học. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo về tăng hình phạt và không đồng ý cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T được hưởng án treo; rút lại yêu cầu kháng cáo về tăng mức bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L có nội dung yêu cầu rõ ràng, gửi trong hạn luật định, nên đủ cơ sở chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Đã có đủ căn cứ xác định: ngày 20/9/2023, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 01/7/2006 đã có hành vi điều khiển xe gắn máy biển số 67AE – 055.48, thiếu chú ý quan sát, va chạm vào bà Đinh Thị N đang đi bộ cùng chiều phía trước gây tai nạn. Hậu quả làm bà N tử vong do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” phạm vào điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại rút lại yêu cầu kháng cáo về tăng tiền bồi thường nên đề nghị không xét đến; về hình phạt: bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (17 tuổi 02 tháng 19 ngày); bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý; bị cáo đang độ tuổi đi học; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T tranh luận: Thống nhất theo quan điểm của Viện kiểm sát, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều L. Hiện nay, bản thân bị cáo đang tiếp tục theo học tại Trường Cao đẳng, bị cáo cũng đã ăn năn hối lỗi, gia đình bị cáo có hoàn cảnh vô cùng khó khăn; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tạo điều kiện cho bị cáo chịu sự giám sát của chính quyền địa phương và sự giáo dục của Nhà trường để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L cho rằng: nội dung của án sơ thẩm không xác định lỗi, không xác định hiện trường và nguyên nhân gây ra vụ tai nạn làm chết người. Tại phiên toà, bị cáo xác định: khi xảy ra tai nạn thì xe máy do bị cáo điều khiển đụng vào bà Định Thị N1 làm bà N1 bị văng ra xa khoảng 5m. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo điều khiển xe với tốc độ cao, không chú ý quan sát gây tai nạn làm bà N1 tử vong. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không tuân thủ các quy định về an toàn khi tham gia giao thông nhưng án sơ thẩm miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại nhằm đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Bà Nguyễn Thị Kiều L thống nhất với quan điểm của người bảo vệ quyền lợi của mình và đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kiều L nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra còn phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử Nguyễn Thị Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại thì thấy:
[3.1] Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Kiều L rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Xét, việc rút kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều L là tự nguyện nên đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này theo quy định tại Điều 342 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
[3.2] Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T khi thực hiện hành vi phạm tội dù chưa tròn 18 tuổi nhưng đã là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo phải hiểu được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây ra nguy hại cho người và tài sản bất cứ lúc nào nếu không tuân thủ, chấp hành nghiêm theo quy định pháp luật. Lẽ ra, bị cáo khi sử dụng phương tiện giao thông bị cáo phải biết quan sát cẩn thận các phương tiện và người tham gia giao thông khác trên đường, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà cẩu thả, thiếu chú ý quan sát khi điều khiển xe tham gia giao thông nên đã gây tai nạn, va chạm vào bà Đinh Thị N đang đi bộ cùng chiều phía trước, làm bà N ngã ra đường bị thương tích và tử vong trong quá trình điều trị, cấp cứu.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải do Nhà nước thiết lập để duy trì sự ổn định và phát triển xã hội mà còn gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, gây ra đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân mà không có gì có thể bù đắp được. Do đó, cần xử phạt bị cáo với một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tuyên phạt bị cáo 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là phù hợp, thỏa đáng, đúng pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Tại phiên tòa hôm nay, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L cho rằng bị cáo không chấp hành Luật giao thông đường bộ, điều khiển xe với tốc độ cao gây tại nạn làm bà N tử vong nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới, ngoài các tình tiết mà án sơ thẩm đã xem xét, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[4] Do yêu cầu kháng cáo bà Nguyễn Thị Kiều L không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[5] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều L về tăng mức bồi thường do tính mạng bị xâm phạm;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều L yêu cầu tăng hình phạt và không cho hưởng án treo đối với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 98 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08/8/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường T, thị xã T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Bà Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 177/2024/HS-PT ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (criminal appeal)
- Số bản án: 177/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Criminal Appeal)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC: Nguyễn Thị Ngọc T
