TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/DS-ST
Ngày: 27-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thị Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm.
Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 356/20/TLST-DS ngày 01/7/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2024/QĐXXST–DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 147/2024/QĐHPT-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần M; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phú T – chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ hoặc ông Trần Khoa H – chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ. Ông T hoặc ông H là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 318/2024/UQ-MARS (VPB) ngày 13/3/2024). Có mặt.
Bị đơn: Ông Vũ Văn K, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 13/3/2024, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần M trình bày:
Theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB – MARS ngày 30/12/2023 cùng các Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công ty TNHH Một thành viên M (nay Công ty Cổ phần M) theo đó Ngân hàng TMCP V đồng ý bán và Công ty TNHH MTV M (nay là Công ty Cổ phần M) đồng ý mua các khoản nợ của khách hàng vay là ông Vũ Văn K, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn,tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng mà ông Vũ Văn K đã ký kết với Ngân hàng TMCP V.
Cụ thể ông Vũ Văn K ký kết với Ngân hàng TMCP V các hợp đồng với các nội dung chính như sau:
- Hợp đồng cho vay số LN2210177107980 ký ngày 21/10/2022 với số tiền vay 1.980.000.000 đồng (một tỷ chín trăm tám mươi triệu đồng); mục đích vay: Vay bổ sung vốn kinh doanh tạp hóa; thời hạn vay 12 tháng với mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 13%/năm, lãi suất cố định trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày giải ngân, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng 01 lần tỉnh từ ngày điều chỉnh lãi suất dầu tiên. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sơ VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được bên Ngân hàng công bố (tại website: www.V1.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm diều chỉnh cộng (+) biên độ 3%/năm.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã trả được số tiền lãi 170.233.262 đồng.
Số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 2.606.986.393 đồng (trong đó: Nợ gốc: 1.980.000.000 đồng; nợ lãi: 620.030.848 đồng và lãi chậm trả: 6.955.546 đồng.
- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký ngày 25/02/2023 với số tiền vay: 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay: Vay mua sắm vật dụng gia đình; thời hạn vay 36 tháng với mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26%/năm.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã trả được số tiền gốc 21.250.704 đồng và tiền lãi là 11.838.505 đồng.
Số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 191.769.358 đồng (trong đó: Nợ gốc; 128.749.296 đồng; nợ lãi 62.340.160 đồng và lãi chậm trả 679.903 đồng).
- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký ngày 25/02/2023 với số tiền vay: 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay: Sửa nhà; thời hạn vay 36 tháng với mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26%/năm.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã trả được số tiền gốc 21.160.089 đồng và tiền lãi là 11.952.412 đồng.
Số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 171.899.563 đồng (trong đó: Nợ gốc 128.839.911 đồng; nợ lãi 42.379.338 đồng và lãi chậm trả 680.314 đồng.
- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký ngày 27/03/2023 với số tiền vay: 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay: Sửa nhà; thời hạn vay 24 tháng với mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26%/năm.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã trả được số tiền gốc 11.941.758 đồng và tiền lãi là 12.895.158 đồng.
Số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 211.497.253 đồng (trong đó: Nợ gốc 138.058.242 đồng; nợ lãi 68.766.773 đồng và lãi chậm trả 4.672.239 đồng).
- Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng Đ ký ngày 06/04/2023 với số tiền vay 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng); Mục đích vay: Sửa nhà; Thời hạn vay 24 tháng với mức lãi suất tại thời điểm giải ngân là 26%/năm.
Qúa trình thực hiện hợp đồng, ông K đã trả được số tiền gốc 4.982.398 đồng và tiền lãi là 3.372.887 đồng.
Số tiền nợ tính đến ngày 27/9/2024 là: 69.612.509 đồng (trong đó: Nợ gốc 45.017.602 đồng; nợ lãi 24.337.635 đồng và lãi chậm trả 257.273 đồng).
Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên ông K đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản bảo đảm sau: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 5042, tờ bản đồ số TĐ 344-2022; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện L, Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 811372, số vào số cấp GCN: CS03459 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B Phước cấp ngày 17/02/2022 cho ông Vũ Văn K. Tài sản được thế chấp tại Ngân hàng V1 theo hợp đồng thế chấp ngày 20/10/2022 tại Văn phòng Công chứng tỉnh B theo số công chứng 35508 và được đăng ký thế chấp ngày 20/10/2022 tại Chi Nhánh V2 đăng ký đất đai huyện L.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Vũ Văn K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn từ ngày 15/07/2023.
Công ty TNHH MTV M (nay Công ty Cổ phần M) và Ngân hàng TMCP V (V1) ký kết hợp đồng mua, bán nợ theo hợp đồng số 03/2023/VPB – MARS ngày 30/12/2023 để bán khoản nợ của ông Vũ Văn K cho Công ty TNHH MTV M. Do đó, nay Công ty Cổ phần M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Vũ Văn K phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M số tiền tính đến ngày 27/9/2024 là 3.251.765.076 đồng (trong đó: Nợ gốc là 2.420.665.051 đồng; tiền lãi 817.854.752 đồng và tiền lãi chậm trả 13.245.273 đồng.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của ông Vũ Văn K để thanh toán khoản nợ mà ông K phải trả cho Công ty Cổ phần M, phần còn dư sẽ được trả lại cho ông K.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của ông K vẫn không đủ trả nợ cho Công ty Cổ phần M, thì ông K có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số nợ còn lại cho Công ty Cổ phần M cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp ông Vũ Văn K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Công ty Cổ phần M thì Công ty Cổ phần M được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 5042, tờ bản đồ số: TĐ 344-2022; địa chỉ: Ấp Đ, xã L, huyện L, Bình Phước theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 811372, số vào số cấp GCN: CS03459 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B Phước cấp ngày 17/02/2022. Tài sản được thế chấp tại V1 theo hợp đồng thế chấp ngày 20/10/2022 tại Văn phòng Công chứng tỉnh B theo số công chứng 35508 và được đăng ký thế chấp ngày 20/10/2022 tại Chi Nhánh V2 đăng ký đất đai huyện L.
Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt trực tiếp thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm cho bị đơn. Tuy nhiên, ông K không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì thêm.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần M đối với bị đơn ông Vũ Văn K về tiền gốc, tiền lãi theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Bị đơn ông Vũ Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung:
Ngày 30/12/2023, khoản nợ của ông Vũ Văn K được Ngân hàng TMCP V chuyển giao cho Công ty Cổ phần M theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 có nội dung: Khoản nợ của khách hàng Vũ Văn K được mua bán theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 và phụ lục 01 Hợp đồng mua bán nợ ký hiệu 35/HĐ03 ngày 30/12/2023 có nội dung: Theo hợp đồng này, bên bán nợ đồng ý bán và bên mua nợ đồng ý mua toàn bộ các khoản nợ được quy định tại khoản 2 Điều 1 của Hợp đồng mua bán nợ, theo đó bên bán nợ sẽ chuyển giao quyền sở hữu các khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định của Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 của Thống đốc Ngân hàng N sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định: “Bên bán nợ là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khoản nợ được bán theo quy định tại khoản 2 Điều này”.
Tại khoản 2 Điều 1 Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “4. Bên mua nợ là tổ chức, cá nhân, bao gồm: a) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng N1 được Ngân hàng N (sau đây là Ngân hàng N) chấp thuận hoạt động mua nợ; b) Tổ chức khác, cá nhân (bao gồm cả tổ chức, cá nhân là người cư trú và người không cư trú)”.
Tại khoản 9 Điều 1 Thông tư số: 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 quy định: “1. Bên mua nợ trở thành người thế quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ được mua, bán của bên bán nợ kể từ thời điểm bên mua nợ nhận chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ từ bên bán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán nợ”.
Xét thấy về chủ thể mua bán nợ theo Hợp đồng mua bán nợ số: 03/2023/VPB-MARS ngày 30/12/2023 giữa Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M là phù hợp quy định tại Điều 13 Thông tư số: 09/2015/TT-NHNN ngày 17/7/2015 quy định về Hợp đồng mua, bán nợ. Do đó, Công ty Cổ phần M có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Vũ Văn K thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay và tiền lãi phát sinh.
- Về chứng cứ: Nguyên đơn đồng ý sử dụng chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập theo Biên bản phiên họp tiếp cận, kiểm tra và công khai chứng cứ ngày 26/8/2024. Tại phiên tòa, nguyên đơn không có yêu cầu thu thập thêm chứng cứ, không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng; bị đơn không đến tham gia phiên tòa, không có ý kiến khiếu nại hay thắc mắc hoặc yêu cầu thu thập thêm chứng cứ nên Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
- Về nội dung tranh chấp:
- [4.1] Về yêu cầu thanh toán khoản vay:
Theo Hợp đồng cho vay ký ngày 21/10/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử được ký vào các ngày 25/02/2023, ngày 27/3/2023 và ngày 06/4/2023 thể hiện giữa Ngân hàng TMCP V và ông Vũ Văn K có giao dịch vay tài sản với nhau.
Xét thấy, các thỏa thuận của các đương sự trong các hợp đồng tín dụng là tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội và phù hợp quy định của pháp luật nên là cơ sở phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa hai bên theo quy định tại Điều 117 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Do Công ty Cổ phần M trở thành chủ sở hữu của khoản nợ được ký kết giữa Ngân hàng TMCP V với ông Vũ Văn K. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán tính đến ngày 27/9/2024 số tiền 3.251.765.076 đồng (trong đó: Nợ gốc là 2.420.665.051 đồng; tiền lãi 817.854.752 đồng và tiền lãi chậm trả 13.245.273 đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ gốc và nợ lãi với tổng số tiền yêu cầu là 3.251.765.076 đồng là có căn cứ chấp nhận.
Kể từ ngày 28/9/2024, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi cho nguyên đơn trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ cho đến khi thi hành án xong.
- [4.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, Hội đồng xét xử nhận định:
Để đảm bảo khoản vay được ký kết giữa các bên, giữa Ngân hàng TMCP V và bị đơn có ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng, chứng thực ngày 20/10/2022 tại Văn phòng C đối với tài sản thể chấp là quyền sử dụng đất thửa số 5042, tờ bản đồ số TĐ 344-2022, diện tích 13.395,1m² tọa lạc tại ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm: 13.195,1m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS031159 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/02/2022 cho ông Vũ Văn K.
Xét thấy, nội dung của hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các Điều 293, Điều 294, Điều 295 và Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ các Điều 6 của Hợp đồng thế chấp ngày 20/10/2022 về quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng Thương mại cổ phần V và Điều 8 của Hợp đồng thế chấp ngày 20/10/2022 đối với các trường hợp xử lý tài sản thế chấp. Do ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng TMCP V nên Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do vậy, căn cứ Điều 299 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của Công ty Cổ phần M về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là có cơ sở nên chấp nhận.
- [4.1] Về yêu cầu thanh toán khoản vay:
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn Công ty Cổ phần M không phải chịu án phí.
Bị đơn ông Vũ Văn K phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông K phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 4.000.000 đồng. Do Công ty Cổ phần M đã nộp tạm ứng số tiền 4.000.000 đồng nên ông K phải trả lại cho Công ty Cổ phần M số tiền 4.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 117, Điều 293, Điều 294, Điều 295, Điều 298, Điều 299; Điều 323, Điều 325 và Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ khoản 2 Điều 5 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số: 04/2017/NQ- HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ Điều 7, Điều 8 và điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQG14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần M đối với bị đơn ông Vũ Văn K về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Vũ Văn K phải trả cho Công ty Cổ phần M số tiền 3.251.765.076 đồng (trong đó: Nợ gốc là 2.420.665.051 đồng; tiền lãi 817.854.752 đồng và tiền lãi chậm trả 13.245.273 đồng).
Kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay ký ngày 21/10/2022; Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở mà sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử được ký vào các ngày 25/02/2023, ngày 27/3/2023 và ngày 06/4/2023.
2. Trường hợp ông K không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Công ty Cổ phần M, thì Công ty Cổ phần M có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thửa đất số 5042, tờ bản đồ số TĐ 344-2022, diện tích 13.395,1m² tọa lạc ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn 200m², đất trồng cây lâu năm: 13.195,1m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: CS031159 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/02/2022 cho ông Vũ Văn K.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của ông Vũ Văn K để thanh toán khoản nợ mà ông K phải trả cho Công ty Cổ phần M, phần còn dư sẽ được trả lại cho ông K.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp của ông K vẫn không đủ trả nợ cho Công ty Cổ phần M, thì ông K có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán số nợ còn lại cho Công ty Cổ phần M cho đến khi trả hết nợ.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Vũ Văn K có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần M số tiền 4.000.000 đồng.
4. Về án phí sơ thẩm:
- - Ông Vũ Văn K phải chịu 97.035.301đồng (chín mươi bảy triệu không trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm lẻ một đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn trả lại cho Công ty Cổ phần M số tiền 44.867.131 đồng (bốn mươi bốn triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn một trăm ba mươi mốt đồng) tiền tạm ứng án phí nộp tại Biên lai thu số 0003392 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (hợp nhất số: 32/VBHN-VPQH ngày 07/12/2020).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hoa |
Bản án số 177/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 177/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
