| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| HUYỆN THỚI LAI | |
| THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
Bản án số: 177/2024/DS-ST
Ngày: 25/9/2024
V/v “Tr/c hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Thanh Khiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Hồng Hạnh
- Bà Võ Thị Kim Son
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Võ Tường Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: ông Phạm Hoài Hận- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 250/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 663/2024/QÐST- DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: luật sư Đỗ Vinh Q, thuộc Đoàn luật sư thành phố C. Có mặt -
Bị đơn: ông Lê Văn Đ, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người đại diện hợp pháp: bà Trần Thị M, sinh năm 1985. Địa chỉ: B, ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (văn bản uỷ quyền ngày 27/3/2024). Có mặt -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- ông Đặng Hữu T, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
-
bà Lê Thị Hồng N. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: luật sư Đỗ Vinh Q, thuộc Đoàn luật sư thành phố C. - bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Có mặt
- ông Lê Văn S, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: ông Lê Văn P, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 11 năm 2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày và yêu cầu như sau: trước đây bị đơn ông Lê Văn Đ có vay tiền của ngân hàng nhưng không có khả năng trả nợ và có thế chấp quyền sử dụng đất, phần đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ông Đ muốn có tiền chuộc đất ra nên ngày 08/8/2022 ông Lê Văn Đ đã thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói trên lại cho ông, với diện tích đất Lộ mặt tiền giáp sông kênh Năm bề ngang 20m, chiều dài 120m; Ngang qua lại 60m dài tới đầu kênh, (tạm tính là 19 công tầm lớn) tại Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 5 diện tích 24943,2m² (LUC) và Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 diện tích 5694m² (CLN) đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ với số tiền chuyển nhượng là 3.800.000.000đồng. Ông đã giao số tiền đặt cọc trước cho ông Đặng Hữu T là 1.700.000.000đồng để ông T giao cho ông Đ và ông Đ đã nhận số tiền 1.700.000.000đồng để trả nợ ngân hàng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về, nhưng ông Đ không thực hiện đúng cam kết không giao đủ diện tích đất cho ông theo đúng cam kết trong tờ cam kết đã ký kết ngày 08/8/2022. Nay ông yêu cầu ông Đ phải thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng đặt cọc là chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông. Nếu ông Đ không thực hiện chuyển nhượng đất như cam kết, yêu cầu ông Đ phải bồi thường tiền đặt cọc lại cho ông với số tiền là 3.400.000.000đồng. Ông vẫn giữ nguyên ý kiến là khi mua đất ông có thoả thuận với bị đơn là mua phần diện tích đất có chiều ngang là 20m chạy dài xuống hết phần đất 120m giá các bên thoả thuận là 3.800.000.000đồng, ông không thoả thuận mua một công đất giá bao nhiêu tiền với bị đơn ông Đ. Tài liệu chứng cứ do ông cung cấp “Tờ hợp đồng đặt cọc ngày 8/8/2022.”
Bị đơn ông Lê Văn Đ và người đại diện hợp pháp thì trình bày như sau: ông Đ là chủ quyền sử dụng đất tại Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 5 diện tích 24943,2m² (LUC) và Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 diện tích 5694m² (CLN) đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Ông Đ thừa nhận có chuyển nhượng diện tích đất nói trên cho nguyên đơn ông L, tuy nhiên do không biết diện tích đất là bao nhiêu nên ông có nói với bà N là người trực tiếp đi xem đất với ông tạm tính đo bao nhiêu là tính bấy nhiêu, không tính giá bán là 3.800.000.000đồng, giá 220.000.000đồng/công, đo bao nhiêu tính bao nhiêu nhưng ông chỉ giao dịch mua bán với bà Lê Thị Hồng N và ông ký giấy cam kết số tiền là 1.700.000.000đồng nhưng thực tế ông nhận tiền cọc làm 02 đợt. Đợt đầu ông nhận 1.000.000.000đồng, đợt sau ông nhận 700.000.000đồng, số tiền còn lại 2.100.000.000đồng khi nào ra công chứng sang tên thì bên bà N và ông L sẽ giao đủ cho ông, hai bên có thỏa thuận khi địa chính vào đo đạc được bao nhiêu công Tầm 3m thì tính bấy nhiêu giá mỗi công Tầm 3m là 220.000.000đồng, thỏa thuận miệng với bà N các khoản chi phí thuế phát sinh bên bà N chịu hết, ông chỉ có trách nhiệm ký tên. Nay ông đồng ý chuyển nhượng đất cho nguyên đơn ông L theo hợp đồng đặt cọc phần diện tích đất mặt tiền được thể hiện theo Bản trích đo địa chính số 1148/TTKTTNMT ngày 11/10/2023 cụ thể sau: Thửa 13¹ có diện tích 1343,7m² và Thửa 12¹ có diện tích 23207,5m². Ông không có bán mão diện tích đất như ông L trình bày, ông bán mỗi công đất giá 220.000.000đồng/công tính tới. Yêu cầu ông L tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc, tôi không đồng ý đền tiền cọc theo yêu cầu của ông Đ. Đối với yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N yêu cầu ông trả số tiền 500.000.000đồng đã cho ông mượn, ông đồng ý trả cho bà N nhưng do hiện tại gặp khó khăn nên khi nào ông chuyển nhượng đất được ông sẽ trả cho bà N.
Lời khai và yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng N trình bày: theo đơn yêu cầu độc lập đề ngày 25/12/2023 có các nội dung chính sau, bà N vay mượn số tiền 500.000.000đồng thay ông Đ, để ông Đ có tiền nộp cho Cơ quan thi hành án Dân sự huyện T trả tiền cho người trúng đấu giá đất, do phần đất của ông Đ vay ngân hàng đang bị phát mãi. Nay bà yêu cầu ông Đ trả bà số tiền 500.000.000đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hữu T trình bày: vào ngày 08/8/2022 ông có nhận của ông Nguyễn Văn L số tiền 1.700.000.000đồng để đặt cọc tiền mua bán đất với ông Lê Văn Đ thay ông L, do ông L bận công việc nên không giao tiền cho ông Đ được. Ông đã giao cho ông Đ số tiền 1.700.000.000đồng với mục đích đặt cọc tiền đất cho ông L. Vị trí đất diện tích như ông L và ông Đ trình bày ở trên, ông xác định ông chỉ làm trung gian nhận chuyển tiền mua bán đất của ông L cho ông Đ, nên không có gì trong vụ án.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Kim H trình bày: bà thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Lê Văn Đ, bà không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án.
Lời khai của người chứng kiến ông Lê Văn P trình bày: ông biết được phần đất ông Lê Văn S được cho nằm giáp cặp phần đất của ông Đ, về trụ đá cố định hai phần đất của ông Đ có từ bao giờ thì ông không biết.
Ông Lê Văn S đã bỏ địa phương đi nên không ghi nhận ý kiến ông S được.
Diễn biến tại phiên toà hôm nay,
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn ông Lê Văn Đ phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng với diện tích đất cặp lộ mặt tiền có bề ngang 20m như trong tờ hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2022, nếu ông Đ không thực hiện theo tờ đặt cọc đề nghị bồi thường số tiền 3.400.000.000đồng, ông Đ không có yêu cầu đo lại phần diện tích đất đang tranh chấp.
Bị đơn ông Lê Văn Đ và người đại diện hợp pháp trình bày vẫn giữ nguyên ý kiến là đồng ý chuyển nhượng đất cho nguyên đơn ông L theo hợp đồng đặt cọc với phần diện tích đất mặt tiền được thể hiện theo Bản trích đo địa chính số 1148/TTKTTNMT ngày 11/10/2023 cụ thể sau: Thửa 13¹ có diện tích 1343,7m² và Thửa 12¹ có diện tích 23207,5m². Ông đồng ý trả số tiền 500.000.000đồng vay cho bà Lê Thị Hồng N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng N trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Đ trả cho bà 500.000.000đồng, bà đồng ý rút lại yêu cầu tính tiền lãi đối với ông Đ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hữu T trình bày, vẫn giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai, ông không trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim H trình bày, thống nhất với lời trình bày của bị đơn ông Lê Văn Đ, bà không trình bày gì thêm.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày những căn cứ và luận cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, cụ thể luật sư đề nghị: Hội đồng xét xử buộc bị đơn ông Đ phải chuyển nhượng quyền sử dụng đất đúng với diện tích đất cặp lộ mặt tiền có chiều dài 20m như trong tờ hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2022, do trong tờ đặt cọc đã ghi rõ phần đất mặt tiền có bề ngang 20m. chiều dài 120m.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai phát biểu, cho rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà. Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết, tư cách những người tham gia tố tụng. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử đề nghị khắc phục. Về nội dung, hướng giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát nhận định, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng theo tờ cam kết ngày 08/8/2022, thấy rằng bị đơn cũng đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng giá chuyển nhượng là 220.000.000 đồng/1 công Tầm 3m. Theo "Tờ đặt cọc tiền đất” ngày 08/8/2022 thể hiện nguyên đơn ông Nguyễn Văn L đặt tiền đất cho ông Lê Văn Đ để mua phần đất lộ mặt tiền giáp sông K bề ngang 20m, dài 120m, ngang qua lại 60m dài tới đầu kênh, tạm tính 19 công tầm lớn với giá tiền 3.800.000.000 đồng. Như vậy, theo thỏa thuận này tương đương 200.000.000 đồng/1 công tầm lớn, chứ không phải giá 220.000.000 đồng/1 công tầm lớn như bị đơn trình bày. Theo đo đạc thực tế diện tích tranh chấp tại Thửa 12¹ là 23.207,5m², thửa 131 là 1.343,7m², tổng 02 Thửa đất có diện tích 24.551,2m². Nếu tính ra công tầm lớn thì chưa đủ 19 công. Tuy nhiên, nguyên đơn không có yêu cầu đo lại diện tích đất, do đó yêu cầu khởi kiện về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận một phần.
Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng N tại phiên toà bà N đồng ý rút lại yêu cầu tính lãi, bị đơn ông Lê Văn Đ cũng đồng ý. Nên đề nghị công nhận sự thoả thuận giữa bà N với ông Đ. (Đính kèm bản phát biểu số 156/PB-VKS-DS ngày 25 tháng 9 năm 2024)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn và bị đơn phát sinh quan hệ tranh chấp từ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Người liên quan có yêu cầu độc lập đề nghị bị đơn trả tiền nợ vay. Nên cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng vay tài sản” giữa các đương sự với nhau, được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 3 khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Đối tượng tranh chấp chính của hợp đồng là quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan trực tiếp đến bất động sản là phần đất tại Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 5 diện tích 24943,2m² (LUC) và Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 diện tích 5694m² (CLN) đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
- [2] Về thủ tục tố tụng: các đương sự không có ai khiếu nại hay thắc mắc về quá trình Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án theo quy định, nên vụ kiện được thụ lý và giải quyết đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[3] Về nội dụng vụ án:
- [3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào lời khai và sự thừa nhận của các đương sự trong vụ án thấy phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và Tòa án tiến hành thu thập được, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa nguyên đơn ông L và bị đơn ông Đ có xác lập giao dịch hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Thửa đất số 12, tờ bản đồ số 5 diện tích 24943,2m² (LUC) và Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 5 diện tích 5694m² (CLN) đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. Tuy người đứng tên giao kết hợp đồng đặt cọc bên mua là ông L, người bán là ông Đ, nhưng theo các đương sự thừa nhận và trình bày người giao tiền đặt cọc cho ông Đ lại là ông Đặng Hữu T, ông T cũng thừa nhận ông chỉ đứng ra giao tiền cọc cho ông Đ thay ông L do ông Lộc B, chứ ông không có mua bán đất với ông Đ.
- [3.2] Xét thấy, hình thức và nội dung của hợp đồng đặt cọc đã được các bên ký kết và thừa nhận giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật, phù hợp với quy định tại Điều 328 của Bộ luật dân sự 2015, nên đã phát sinh trách nhiệm pháp lý ràng buộc các bên thực hiện.
- [3.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn ông L về việc yêu cầu bị đơn ông Đ phải tiếp tục thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông theo tờ hợp đồng đặt cọc ngày 08/8/2022 mà các bên đã ký, xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn mà phía bị đơn không phản đối và đồng ý tiếp tục chuyển nhượng đất cho ông L, phù hợp với quy định tại Điều 393 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, xét lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn là mua phần diện tích đất có bề ngang là 20m chạy dài xuống hết phần đất 120m, giá các bên thoả thuận là 3.800.000.000đồng nên yêu cầu bị đơn phải thực hiện đúng cam kết này, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào Bản trích đo địa chính số 1148/TTKTTNMT ngày 11/10/2023 mà các bên đã thống nhất xác định ranh đất hiện tại của bị đơn ông Đ đang quản lý và sử dụng tại Thửa đất số 13¹ có diện tích 1343,7m² có phần mặt tiền giáp Kênh Năm chỉ có diện tích chiều ngang là 17,78m², phần đất mặt tiền còn lại bị đơn cho rằng đây là đất của anh bị đơn là ông Lê Văn S đã có cột cố định nên không đồng ý bán cho phía nguyên đơn, thấy qua lời trình bày của các đương sự tại biên bản đối chất vào ngày 6 tháng 9 năm 2024 được ông L và bà N thừa nhận, bà N là người đứng ra giao dịch mua bán đất thay ông L, trước khi ông L và ông Đ ký kết hợp đồng đặt cọc thì bà N và ông Đ có xuống phần đất của ông Đ để xem và bà có dùng cây 1m để đo đúng diện tích đất cần mua bán, nhưng do bà N tin tưởng vì ông Đ có nói là ông cam kết đâu ra đó, là ông Đ bán đúng diện tích đất mặt tiền có chiều ngang 20m nên bà mới thông báo cho ông L biết để làm tờ đặt cọc mua bán đất giữa các bên, nhưng ông T là người trực tiếp đưa tiền cho ông Đ, bà N ký tên vào tờ đặt cọc với ông Đ trước sau đó ông L mới ký tên sau. Sau khi giao tiền đặt cọc 1.700.000.000đồng và các bên ký kết tờ đặt cọc ngày 08 tháng 8 năm 2022 xong, khoảng vài ngày sau các bên mới nhờ cán bộ địa chính xuống phần đất để tiến hành đo đạc lại, khi đo lại mới biết phần diện tích đất mặt tiền chiều ngang có 02 trụ cột đá cố định không đủ diện tích như đã thoả thuận là 20m mặt tiền, thấy ông L là người mua bán đất với ông Đ nhưng trước khi ký vào tờ đặt cọc lại không trực tiếp đi xuống xem hiện trạng đất cần chuyển nhượng để kiểm tra đo đạc diện tích lại phó thác hết cho bà N, không liên hệ cán bộ địa chính tại địa phương là người có thẩm quyền quản lý, chuyên môn và biết được diện tích ranh giới đất để hỗ trợ đo đạc nhằm xác định đủ diện tích và ranh giới cột mốc được chính xác, dẫn đến việc phần diện tích thỏa thuận trong tờ đặt cọc bề ngang 20m mặt tiền có sự chênh lệch so với phần diện tích đất thực tế của ông Đ chỉ có chiều ngang mặt tiền là 17,78m được thể hiện theo Bản trích đo địa chính số 1148/TTKTTNMT ngày 11/10/2023, nên cần xác định đây là lỗi chủ quan của phía nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
- [3.4] Đối với nội dung trong tờ đặt cọc có ghi “Lộ mặt tiền giáp sông K bề ngang 20m. Chiều dài 120m” chỉ nhằm để giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nguyên đơn ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với phía bị đơn có diện tích chiều ngang 20m, không thể hiện được chuyển nhượng Thửa đất nào, diện tích bao nhiêu, vị trí Thửa đất tại đâu, bị đơn chỉ thừa nhận có diện tích đất chiều ngang đo được bao nhiêu thì bán bấy nhiêu và phía nguyên đơn ông L cũng không có yêu cầu đo đạc lại phần diện tích đất tranh chấp, nên không có cơ sở xem xét, và chấp nhận yêu cầu này của phía nguyên đơn ông L buộc bị đơn ông Đ phải chuyển nhượng đúng phần diện tích đất mặt tiền có chiều ngang 20m theo tờ đặt cọc ngày 08/8/2022.
- [4] Xét lời trình bày của bị đơn Lê Văn Đ, ông đồng ý chuyển nhượng đất cho ông L theo hợp đồng đặt cọc là phần diện tích đất mặt tiền được thể hiện theo bản trích đo địa chính số 1148 cụ thể là Thửa 13¹ có diện tích 1343,7m² và Thửa 12¹ có diện tích 23207,5m² ông không có bán mão diện tích đất như ông L trình bày, ông bán mỗi công đất giá 220.000.000đồng/công tính tới, thấy bị đơn ông Đ không có yêu cầu phản tố trong vụ án, cũng đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng nhưng giá chuyển nhượng là 220.000.000đồng/công Tầm 3m. Theo "tờ đặt cọc tiền đất ngày 08/8/2022” thể hiện nguyên đơn ông Nguyễn Văn L đặt tiền đất cho ông Lê Văn Đ để chuyển nhượng phần đất lộ mặt tiền giáp sông K bề ngang 20m, dài 120m, ngang qua lại 60m dài tới đầu kênh, tạm tính 19 công tầm lớn với giá tiền 3.800.000.000đồng. Như vậy, theo thỏa thuận này tương đương 200.000.000đồng/công tầm lớn, chứ không phải giá 220.000.000đồng/công tầm lớn nên lời trình bày của bị đơn không có cơ sở xem xét.
- [4.1] Theo đo đạc thực tế diện tích đất tranh chấp tại Thửa 12¹ là 23.207,5m², Thửa 13¹ là 1.343,7m² tổng 02 Thửa có diện tích 24.551,2m² nếu tính ra công tầm lớn thì chưa đủ 19 công, còn thiếu 72,8m² nên cần cấn trừ giá trị đất của 72,8m² tương đương số tiền 11.234.567đồng lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
- [5] Xét lời trình bày và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng N yêu cầu ông Lê Văn Đ trả số tiền 500.000.000đồng, bà rút lại yêu cầu tính lãi, thấy phía bị đơn ông Đ đồng ý trả cho bà N 500.000.000đồng nghĩ nên công nhận sự thoả thuận này. Về thời gian và cách trả sẽ do Cơ quan thi hành án dân sự huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
- [6] Về chi phí đo đạc định giá, lệ phí trích đo địa chính: do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, căn cứ Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn ông Lê Văn Đ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định. Do nguyên đơn tạm ứng chi phí 9.000.000đồng và đã chi xong, nên bị đơn ông Lê Văn Đ phải trả số tiền 9.000.000đồng lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn L là phù hợp quy định pháp luật. Ông L được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng 1.000.000đồng.
- [7] Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông Lê Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- [8] Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo Bản án/quyết định theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bị đơn ông Lê Văn Đ, ông L có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn lại sau khi cấn trừ 11.234.567đồng cho ông Đ là 2.088.765.433đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào: khoản 3 khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, Điều 97, khoản 2 Điều 244, Điều 246, Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 117, Điều 328, Điều 401 Bộ Luật Dân sự năm 2015. Khoản 1 Điều 167, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L.
Buộc bị đơn ông Lê Văn Đ phải tiếp tục chuyển nhượng phần đất tại Thửa đất số 13¹ có diện tích 1343,7m² loại đất CLN và Thửa đất số 12¹ có diện tích 23207,5m² loại đất LUC đất tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (vị trí Thửa đất theo Bản trích đo địa chính số 1148/TTKTTNMT ngày 11/10/2023).
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L có nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn lại cho bị đơn ông Lê Văn Đ là 2.088.765.433đồng (hai tỷ không trăm tám mươi tám triệu bảy trăm sáu mươi lăm nghìn bốn trăm ba mươi ba đồng) sau khi cấn trừ số tiền nguyên đơn ông L đã đặt cọc 1.700.000.000đồng (một tỷ bảy trăm triệu đồng) và 11.234.567đồng (mười một triệu hai trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm sáu mươi bảy đồng) giá trị diện tích đất 72,8m².
Các đương sự được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và điều chỉnh diện tích đất sử dụng theo các quy định pháp luật có liên quan.
Công nhận sự thoả thuận giữa bà Lê Thị Hồng N và ông Lê Văn Đ về việc ông Đ có nghĩa vụ trả số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng) cho bà N.
Thời gian và cách trả: do Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Đình chỉ yêu cầu tính lãi đối với số tiền 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng) của bà Lê Thị Hồng N.
Về chi phí đo đạc định giá, lệ phí trích đo địa chính: bị đơn ông Lê Văn Đ có nghĩa vụ hoàn trả số tiền 9.000.000đồng lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn L. Ông L được nhận lại số tiền tạm ứng chi phí tố tụng 1.000.000đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông Lê Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 24.300.000đồng tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 50.000.000đồng (năm mươi triệu đồng) theo biên lai thu số 0005876 ngày 05/12/2022 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T, thành phố Cần Thơ.
2. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, (đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Thanh Khiêm |
* Nơi nhận:
|
9
Bản án số 177/2024/DS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 177/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng quyền quyền sử dụng đất
