|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 177/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2024 V/v “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đặng Thị Mỹ Hường.
- Ông Trần Thanh Việt.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 415/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 629/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy L, sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: B N, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: B N, khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NHẬN THẤY:
Theo nội dung vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị Thùy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng bà do mai mối, sau đó tiến đến hôn nhân. Có giấy chứng nhận kết hôn số 78, cấp ngày 07/6/2010 do UBND phường M, thành phố L, tỉnh An Giang cấp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Nay bà xin được ly hôn với ông V.
Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Phước T1, sinh ngày 28/8/2020. Hiện con chung đang sống chung với bà L, bà L yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung.
Về cấp dưỡng: Bà yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh V vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Đề nghị:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L được ly hôn ông V.
Về con chung: giao cháu T và cháu T1 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng: ông V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.
Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Biên bản xác minh; bản sao giấy khai sinh của Nguyễn Thị Cẩm T, Nguyễn Phước T1; giấy chứng nhận đăng ký kết hôn...
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp của các đương sự là về ly hôn, nuôi con, bị đơn có địa chỉ thường trú tại địa bàn thành phố L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định pháp luật tại khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông V chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông V do vợ chồng chung sống không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân hơn 06 tháng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở các phiên hòa giải để hòa giải, động viên đoàn tụ nhưng ông V vắng mặt không lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, bỏ mặc cho bà L tự giải quyết, không quan tâm đến việc hàn gắn quan hệ vợ chồng. Xét, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ gắn bó lâu dài và bền vững, vợ chồng phải thương yêu chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, cùng chung tay nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, sống chung với nhau, nhưng ông bà đã ly thân, ông bà đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà L yêu cầu ly hôn là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
[2.2] Về con chung: Bà L và ông V có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T và Nguyễn Phước T1. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Từ khi ly thân ông V không cùng bà L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét yêu cầu của bà L, nguyện vọng của cháu T và để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của các cháu, tạo điều kiện cho các cháu được ổn định tinh thần, sinh sống và học tập, Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 cháu T và T1 cho bà L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Bà Phạm Thị Thùy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về cấp dưỡng: Cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, bà L yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Điều 3 Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động thì mức lương tổi thiểu của thành phố L thuộc vùng II là 4.410.000 đồng cho nên mức cấp dưỡng của ông Vũ hàng tháng cho bà L nuôi 02 con chung là 4.410.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24/9/2024 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
- Bà Phạm Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Ông Nguyễn Thanh V phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thùy L. Bà Phạm Thị Thùy L được ly hôn ông Nguyễn Thanh V.
- Về con chung:
2.1. Bà Phạm Thị Thùy L và ông Nguyễn Thanh V có 02 con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 23/12/2011 và Nguyễn Phước T1, sinh ngày 28/8/2020. Hiện con chung đang sống chung với bà L.
2.2. Giao 02 cháu là Nguyễn Thị Cẩm T và Nguyễn Phước T1 cho bà Phạm Thị Thùy L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Bà Phạm Thị Thùy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của trẻ em theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Thanh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T và cháu T1, mỗi tháng 2.205.000 đồng/cháu, 02 cháu là 4.410.000 đồng. Thời điểm cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24/9/2024 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
- Bà Phạm Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0002319 ngày 04 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.
- Ông Nguyễn Thanh V phải chịu 300.000 đồng án phí về cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Đặng Thị Mỹ Hường Trần Thanh Việt | Lê Thị Hồng Thi |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Thi |
Bản án số 177/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 177/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L yêu cầu ly hôn ông V
