|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 177/2024/DS-ST Ngày: 24-9-2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quân Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Lan Phương;
2. Ông Trương Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 292/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-DS ngày 11/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty cổ phần M, địa chỉ: Tầng A, tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền là ông Đoàn Anh T và ông Nguyễn Thành L, cùng thường trú: Lầu 1, I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn xin vắng mặt;
Bị đơn: Ông Nguyễn Phong Phú Q, sinh năm 1994 và bà Lê Hồng G, sinh năm 1994; cùng thường trú: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Đại diện nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa. Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2024, quá trình tố tụng giải quyết vụ án, đại diện nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H. Công ty TNHH M1 đã mua khoản nợ của khách hàng từ Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H. Theo đó, các nội dung chi tiết liên quan đến khoản nợ của ông Q và bà G như sau:
- - Mã số Hợp đồng tín dụng: LN2105253789070 ngày 26/5/2020;
- - Mục đích vay vốn: Mua xe ô tô.
- - Số tiền vay: 400.000.000 đồng;
- - Lãi suất vay: 6,8%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày 28/05/2021. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm.
- - Thời hạn vay: 84 tháng, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G đã thanh toán 152.433.062 đồng cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H trong đó tiền gốc là 95.240.004 và tiền lãi 57.193.058 đồng, do ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/02/2023 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Ngày 30/6/2023 Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H bán lại hợp đồng tín dụng nói trên cho Công ty TNHH M1.
- - Tính đến ngày 05/3/2024 dư nợ còn lại là: 374.270.234 đồng, trong đó, bao gồm 304.759.996 đồng tiền gốc và 69.510.328 đồng tiền lãi quá hạn.
Công ty M1 đã nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng ông Q và bà G vẫn không thực hiện. Do đó, Công ty TNHH M1 khởi kiện yêu cầu ông Q và bà G thanh toán số tiền nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 26/5/2024 là 374.270.234 đồng (Ba trăm bảy mươi bốn triệu hai trăm bảy mươi nghìn hai trăm ba mươi bốn đồng), ông Q và bà G phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên, kể từ ngày 06/3/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty TNHH M1. Trường hợp, ông Q và bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty TNHH M1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Công ty TNHH M1, tài sản là: chiếc xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI; số loại: Accent, số khung: RLUA741BBMN057861, số máy: G4LCLF724729, biển số: 61A-941.42, theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61012002 do Phòng C - Công an tỉnh B cấp ngày 19/05/2021 đứng tên ông Nguyễn Phong Phú Q. Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH M1 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trong thời gian Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án thì ngày 12/7/2024 Công ty TNHH M1 đã bán khoản nợ của ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G cho Công ty cổ phần M và Công ty cổ phần M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu của Công ty TNHH M1 ngoài ra có bổ sung yêu cầu ông Q và bà G thanh toán nợ tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 426.539.721 đồng, trong đó 304.759.996 đồng tiền gốc và 121.779.725 đồng tiền lãi quá hạn.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Bản sao Hợp đồng mua bán nợ, Hợp đồng cho vay, Hợp đồng thế chấp xe ô tô, bản photo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô; bản photo CMND sổ hộ khẩu của bị đơn; bản sao hồ sơ pháp lý của G1, điều lệ Công ty TNHH M1; giấy ủy quyền, Đơn đề nghị, bản sao hợp đồng mua bán nợ và Phụ lục của Công ty M1 và Công ty M, bản tự khai, bản kê tính lãi, đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa tuy nhiên ông Q và bà G có ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và các tài liệu, chứng cứ theo quy định pháp luật để báo cho ông Q và bà G biết và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng ông Q, bà G vẫn không có ý kiến gì về việc khởi kiện của nguyên đơn. Tại biên bản làm việc ngày 22/8/2024 ông Q và bà G xác nhận tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay nói trên chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, số loại Accent, biển số 61A-941.42 hiện đang do ông Q và bà G quản lý, xác nhận là có vay tiền theo Hợp đồng vay và Hợp đồng thế chấp nói trên và không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, bị đơn ông Q và bà G có đơn xin vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho phiên tòa được tiếp tục để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Về thủ tục tố tụng, không kiến nghị bổ sung hay đề nghị khắc phục. Về nội dung vụ án, bị đơn ông Q và bà G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, đại diện nguyên đơn Công ty cổ phần M vắng mặt (có đơn xin vắng mặt), bị đơn ông Q và bà G vắng mặt (có đơn xin vắng mặt). Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng để bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đại diện nguyên đơn và bị đơn.
[2] Bị đơn ông Q và bà G có hộ khẩu thường tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Quá trình thực hiện tố tụng giải quyết vụ án, bị đơn ông Q và bà G được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Q và bà G có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Tại biên bản làm việc ngày 22/8/2024 ông Q và bà G có xác nhận là có vay tiền theo Hợp đồng vay và Hợp đồng thế chấp nói trên không có ý kiến gì với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty cổ phần M yêu cầu ông Q và bà G thanh toán 426.539.721 đồng, bao gồm 304.759.996 đồng tiền gốc và 121.779.725 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày 11/9/2024. Xem xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp thấy rằng:
[4.1] Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là Hợp đồng cho vay số LN2105253789070 ngày 26/05/2020 thể hiện: Ngày 26/05/2020 ông Q và bà G có vay của Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H số tiền 400.000.000 đồng, với lãi suất vay 6,8%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày 28/05/2021 Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07 và 01/10 hàng năm, thời hạn 84 tháng mục đích vay mua xe ô tô. Hình thức trả nợ là thanh toán 4.762.2021 đồng vào ngày 15 hàng tháng, ông Q và bà G phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H. Trường hợp, ông Q và bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H, tài sản là: chiếc xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI; số loại: Accent, số khung: RLUA741BBMN057861, số máy: G4LCLF724729, biển số: 61A-941.42, theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61012002 do Phòng C - Công an tỉnh B cấp ngày 19/05/2021 đứng tên ông Nguyễn Phong Phú Q. Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H cho đến khi thanh toán hết nợ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Q và bà G đã thanh toán 152.433.062 đồng cho Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H trong đó tiền gốc là 95.240.004 và tiền lãi 57.193.058 đồng. Do ông Q và bà G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 15/02/2020 Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H đã chuyển sang nợ quá hạn do ông Q và bà G vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4.2] Căn cứ Hợp đồng mua bán nợ số: 3-30/06/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 giữa Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H với Công ty TNHH M1, nội dung Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Thành phố H bán lại cho Công ty TNHH M1 khoản nợ của ông Q và bà G theo Hợp đồng tín dụng số LN2105253789070 ngày 26/5/2020. Công ty TNHH M1 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Q, bà G phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 05/3/2024 là 374.270.324 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc 304.759.996 đồng và số tiền nợ lãi 69.510.328 đồng. Ngày 30/7/2024 Công ty TNHH M1 có đơn đề nghị xác định tư cách tham gia tố tụng của Công ty cổ phần M do ngày 12/7/2024 đã bán khoản nợ của ông Q, bà G cho Công ty Cổ phần M.
Căn cứ bản tự khai ngày 11/9/2024 của ông Đào Anh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần M yêu cầu bị đơn ông Q, bà G phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/9/2024 là 426.539.721 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc 304.759.996 đồng và số tiền nợ lãi 121.779.725 đồng là phù hợp có căn cứ chấp nhận.
Ông Q và bà G phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty cổ phần M. Trường hợp, ông Q và bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Công ty cổ phần M, tài sản là: chiếc xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI; số loại: Accent, số khung: RLUA741BBMN057861, số máy: G4LCLF724729, biển số: 61A-941.42, theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61012002 do Phòng C - Công an tỉnh B cấp ngày 19/05/2021 đứng tên ông Nguyễn Phong Phú Q. Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần M cho đến khi thanh toán hết nợ.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[6] Về án phí: Ông Q và bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468, của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- - Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc Hội;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng của Công ty cổ phần M đối với ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G.
Buộc ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G có trách nhiệm thanh toán cho Công ty cổ phần M nợ Jupiter 426.539.721 đồng, trong đó 304.759.996 đồng tiền gốc và 121.779.725 đồng tiền lãi quá hạn tính đến ngày 11/9/2024.
Ông Q và bà G phải tiếp tục trả lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty cổ phần M. Trường hợp, ông Q và bà G không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Công ty cổ phần M, tài sản là: chiếc xe ô tô nhãn hiệu: HYUNDAI; số loại: Accent, số khung: RLUA741BBMN057861, số máy: G4LCLF724729, biển số: 61A-941.42, theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 61012002 do Phòng C - Công an tỉnh B cấp ngày 19/05/2021 đứng tên ông Nguyễn Phong Phú Q. Nếu giá trị tài sản bảo đảm phát mãi không đủ thanh toán nợ thì ông tiếp tục có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần M cho đến khi thanh toán hết nợ.
Kể từ ngày Công ty cổ phần M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G không thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Phong Phú Q và bà Lê Hồng G phải chịu số tiền 21.061.588 đồng (hai mươi mốt triệu không trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm tám mươi tám đồng).
- Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần M số tiền 9.356.758 đồng (chín triệu ba trăm năm mươi) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000152 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quân Vương |
Bản án số 177/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 177/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Jupiter - Nguyễn Phong Phú Quý
