Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI


Bản án số: 177/2024/KDTM-ST

Ngày: 23/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh

  • Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường 6 - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2024/TLST-DS, ngày 05/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-DS ngày 16/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1409/2024/QĐST-DS ngày 05/9/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V2).

  • Địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

  • Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V; chức vụ: Tổng giám đốc.

  • Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H; chức vụ: Giám đốc Trung tâm Q1 – Khối Ngân hàng Bán lẻ VIB (theo Giấy ủy quyền số 107064.22 ngày 03/10/2022).

  • Bà Trần Thị Thu H ủy quyền lại cho:

    1. Ông Hà Văn K;
    2. Bà Tất Lê Uyên N;
    3. Ông Lưu Duy L;
    4. Bà Trần Thị T.

Cùng địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B, U, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 021677.24 ngày 26/01/2024).

  • - Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1992.

  • Địa chỉ: tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Trần Đức T2, sinh năm 1951.
    2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1955.
  • Cùng địa chỉ: tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  • (Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông K có mặt; ông T1, ông T2, bà S vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn; lời trình bày tại các bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Hà Văn K trình bày:

Vào ngày 18/11/2021, ông Trần Văn T1 có ký kết hợp đồng tín dụng số 9496092.21 với Ngân hàng TMCP Q (V2) để vay số tiền 1.950.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng) với lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8.5%/năm trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân, hết thời hạn này, lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.7%/năm. Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh nội thất đồ gỗ. Thời hạn vay: 11 tháng. Khoản vay đã được Ngân hàng giải ngân cho ông T1 vào ngày 25/11/2021.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của ông T1 tại Ngân hàng là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền bản với đồ đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S. Việc thế chấp được thực hiện vào ngày 23/11/2021 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 6440392.21.696 được ký kết giữa Ngân hàng và ông T2, bà S.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền lãi 80.650.404 đồng (T3 mươi triệu sáu trăm năm mươi nghìn bốn trăm lẻ bốn đồng), chưa thanh toán tiền gốc. Ông T1 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 01/4/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 4 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N1.

Vì vậy, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán tại Tòa án.

Đề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:

  1. Buộc ông Trần Văn T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ tính tới ngày 23/9/2024 bao gồm:
    • - Toàn bộ nợ gốc: 1.950.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng);
    • - Nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm lẻ tám nghìn ba trăm sáu mươi bốn đồng).
    • - Nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu một nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng).
    • Tổng cộng: 2.495.409.626 đồng (Hai tỷ bốn trăm chín mươi lăm triệu bốn trăm lẻ chín nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).
  2. Ngân hàng được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi ông Trần Văn T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9496092.21 ngày 25/11/2021 đã ký với Ngân hàng.
  3. Trường hợp ông Trần Văn T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầu đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền bản với đồ đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S để thu hồi nợ.
  4. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản vay thì ông Trần Văn T1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay còn lại cho Ngân hàng TMCP Q.

Ngoài yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác.

- Đối với bị đơn ông Trần Văn T1: Quá trình tố tụng, ông Trần Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng ông T1 vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông T1 cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S: Quá trình tố tụng, ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; triệu tập hợp lệ để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng ông T2, bà S vắng mặt không có lý do. Đồng thời, ông T2, bà S cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa:

  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán
  • - Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì đây là vụ kiện thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Thẩm phán đã xác định thẩm quyền thụ lý vụ án đúng với quy định của pháp luật.
  • - Về quan hệ pháp luật: Thẩm phán xác định đây là vụ kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa Ngân hàng TMCP Q và ông Trần Văn T1 là phù hợp theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS. (Do tại phiên toà đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có cung cấp cho HĐXX giấy phép kinh doanh Hộ gia đình mang tên ông Trần Văn T1 nên chuyển vụ án dân sự sang vụ án kinh doanh thương mại).
  • - Về xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đúng theo quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 68 BLTTDS.
  • - Về thời hiệu khởi kiện: theo quy định tại Điều 184 BLTTDS thì đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên không xem xét vấn đề thời hiệu.
  • - Về thu thập chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán có tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Xét thấy Thẩm phán đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng quy định Điều 97, 98, 101, 105, 106 BLTTDS.
  • - Về thụ lý vụ án và thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 195, 196, 203 BLTTDS.
  • - Về thủ tục hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ: Thẩm phán thực hiện đúng theo quy định tại Điều 205, 207, 208, 209, 210, 211 BLTTDS .
  • - Về việc chuyển giao hồ sơ cho VKS: Thẩm phán thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 BLTTDS
  • - Về việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại 171, 173, 177, 179 của BLTTDS.
  1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa

Hội đồng xét xử đảm bảo đúng thành phần, đảm bảo sự vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án và tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

  1. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
  • - Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về người có yêu cầu khởi kiện, cung cấp chứng cứ cho toà án để chứng minh những yêu cầu hợp pháp của mình, tham gia phiên họp công khai chứng cứ theo đúng thông báo của toà án là thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 85, 86, 91, 96 BLTTDS.
  • - Đối với bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do tại phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên toà ngày hôm nay là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72, 73 BLTTDS.
  1. Về đường lối giải quyết vụ án

* Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q (V2) yêu cầu ông Trần Văn T1 phải thanh toán trả nợ cho Ngân hàng V2 tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 2.495.409.626 đồng (nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng; nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng).

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng: Giữa Ngân hàng TMCP Q (V2) và ông Trần Văn T1 có thoả thuận ký kết các Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 để vay số tiền 1.950.000.000 đồng với lãi suất vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 8.5%/năm trong 06 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân, hết thời hạn này, lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3.7%/năm. Mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh nội thất đồ gỗ. Thời hạn vay: 11 tháng. Khoản vay đã được Ngân hàng giải ngân cho ông T1 vào ngày 25/11/2021.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông T1 đã thanh toán cho V2 tổng cộng số tiền lãi được 80.650.404 đồng. Khoản vay này đã quá hạn thanh toán từ ngày 01/04/2023. Mặc dù, Ngân hàng V2 đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu ông T1 có trách nhiệm thanh toán nợ cho V2 nhưng ông T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn nói trên. Do ông T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V2 nên việc Ngân hàng V2 yêu cầu ông T1 phải thanh toán trả nợ cho Ngân hàng V2 tạm tính đến ngày 23/9/2024 tổng số 2.495.409.626 đồng (Trong đó: Nợ gốc 1.950.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng; nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng) là có căn cứ nên cần được chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V2.

Để đảm bảo cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 98, tờ bản đồ số: 29, địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CĐ 620943, số vào sổ cấp GCN: CH 04525 do UBND cấp ngày 27/12/2016 đứng tên ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6440392.21.696 ngày 23/11/202 được Công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai số công chứng: 004420, Quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Qua xem xét, thẩm định tại chổ đối với thửa đất số: 98, tờ bản đồ số: 29, địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tại buổi xem xét thẩm định bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Ghi nhận tại thửa đất này có 01 căn nhà nhưng khóa cửa ngoài. Nguyên đơn xác định thửa đất này không thay đổi so với thời điểm thế chấp cho Ngân hàng.

Do đó, nếu ông Trần Văn T1 không trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q hoặc trả không đầy đủ thì phải chịu biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng V2.

* Đối với bị đơn ông Trần Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S đã được Tòa án tống đạt (niêm yết) các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến để bảo vệ quyền lợi cho mình cũng như có văn bản phản hồi lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay ông Trần Văn T1, ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S có HKTT tổ 36, khu phố D, phường T, Tp ., Đồng Nai nhưng đã bán nhà từ năm 2023, hiện nay ông T1, ông T2, bà S ở đâu làm gì địa phương không nắm được. Xét thấy, khi làm hợp đồng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có ghi địa chỉ cụ thể của mình vào hợp đồng tín dung và hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên, khi thay đổi địa chỉ bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thông báo cho nguyên đơn biết địa chỉ mới, vì vậy căn cứ Nghị quyết số 04 ngày 05/05/2017 của HĐTP-TANDTC xem như bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Toà án thu thập được để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q:
    • - Buộc ông Trần Văn T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền vay tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 2.495.409.626 đồng, trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng; nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng.
    • - Kể từ ngày 24/9/2024 cho cho đến khi thi hành xong số tiền trên, bị đơn còn phải tiếp tục trả lãi trong hạn, lãi quá hạn phát sinh theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng đã được ký kết giữa các bên.
    • - Trong trường hợp ông Trần Văn T1 không trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q hoặc trả không đầy đủ thì phải chịu biện pháp cưỡng chế phát mãi tài sản thế chấp mà hai bên đã ký kết tại Hợp đồng thế chấp số: 6440392.21.696 ngày 23/11/2021 được Công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai số công chứng: 004420, Quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/11/2021 và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
  2. Về án phí kinh doanh thương mại và chi phí tố tụng khác: ông Trần Văn T1 phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:

Ngân hàng TMCP Q (V2) yêu cầu ông Trần Văn T1 trả số tiền nợ chưa thanh toán theo Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 các bên đã ký kết.

Hợp đồng tín dụng thể hiện mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Hộ kinh doanh cá thể của ông Trần Văn T1 nên xác định việc ký kết hợp đồng tín dụng nhằm mục đích lợi nhuận. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển vụ án thụ lý dân sự thành vụ án kinh doanh thương mại.

Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; Ngân hàng TMCP Q (V2) là nguyên đơn, ông Trần Văn T1 là bị đơn. Ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ 620943 của thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ông T2, bà S ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, sử dụng tài sản trên làm tài sản bảo đảm cho khoản vay của ông T1 theo hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 nên được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn ông Trần Văn T1 có nơi cư trú tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

[3] Về thủ tục tố tụng:

Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 và Hợp đồng thế chấp số 6440392.21.696 ngày 23/11/2021 có ghi cụ thể địa chỉ và CMND của ông T1, ông T2, bà S. Khi thay đổi địa chỉ ông T1, ông T2, bà S không thông báo cho nguyên đơn biết, theo Nghị Quyết số 04 ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem như ông T1, ông T2, bà S cố tình giấu địa chỉ. Vì vậy, khi giải quyết vụ án Toà án căn cứ vào địa chỉ trong các hợp đồng mà ông T1, ông T2, bà S đã ký kết với Ngân hàng để làm căn cứ để giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Trần Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, ông T2, bà S theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về việc giải quyết vụ án:

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V2) về việc buộc ông Trần Văn T1 trả cho Ngân hàng V2 số tiền nợ tín dụng tạm tính đến ngày 23/9/2024 là 2.495.409.626 đồng, trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng; nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng. Ông Trần Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng V2 tiền lãi quá hạn phát sinh theo quy định tại hợp đồng cho vay kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nợ vay. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện: Ngày 18/11/2021, Ngân hàng V2 và ông Trần Văn T1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 (Bút lục 41-46). Về số tiền vay, mục đích vay và lãi suất của hợp đồng nêu trên như đại diện nguyên đơn trình bày.

Ngân hàng đã giải ngân cho ông T1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 9496092.21 ngày 25/11/2021.

Để bảo đảm cho khoản vay nói trên của ông T1, ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S đã ký với Ngân hàng V2 Hợp đồng thế chấp tài sản số 6440392.21.696 ngày 23/11/2021 (Bút lục 47-53). Tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S.

Theo đơn khởi kiện Ngân hàng V2 trình bày: quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng xác định ông T1 thanh toán được cho Ngân hàng V2 số tiền 80.650.404 đồng (trong đó nợ gốc 0 đồng và nợ lãi 80.650.404 đồng).

- Tại biên bản xác minh ngày 28/3/2024 của Công an phường T, thành phố B xác nhận: Ông Trần Văn T1, ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tuy nhiên, ông T1, ông T2, bà S đã bán nhà từ năm 2023, hiện đi đâu, làm gì địa phương không nắm rõ (bút lục 152, 153).

Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho ông T1, ông T2, bà S theo hình thức niêm yết công khai theo địa chỉ nơi ông T1, ông T2, bà S đăng ký hộ khẩu thường trú.

Như vậy, ông T1, ông T2, bà S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn không đến Tòa án làm việc và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V2. Vì vậy xem như ông T1, ông T2, bà S đã từ chối cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình và mặc nhiên ông T1 thừa nhận nợ, ông T2 và bà S thừa nhận việc thế chấp tài sản để đảm bảo khoản vay cho ông T1.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở xác định việc ông T1 vay của Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền 1.950.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng), đã trả được 80.650.404 đồng (trong đó nợ gốc 0 đồng và nợ lãi 80.650.404 đồng). Tính đến ngày 23/9/2024, ông T1 còn nợ Ngân hàng V2 2.495.409.626 đồng, trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng; nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng là có thật. Ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S sử dụng Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền bản với đồ đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S làm tài sản bảo đảm của Hợp đồng thế chấp tài sản số 6440392.21.696 ngày 23/11/2021.

Từ đó, có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Trần Văn T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền tính đến ngày 23/9/2024 là 2.495.409.626 đồng (Hai tỷ bốn trăm chín mươi lăm triệu bốn trăm lẻ chín nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm lẻ tám nghìn ba trăm sáu mươi bốn đồng); nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu một nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng). Trường hợp ông T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nêu trên, Ngân hàng được quyền yêu cầu xử lý theo quy định đối với tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền bản với đồ đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S để thu hồi nợ.

Kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thi hành xong số tiền trên, ông Trần Văn T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 các bên đã ký kết.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán khoản vay thì ông Trần Văn T1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay còn lại cho Ngân hàng.

[5] Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Trần Văn T1 phải chịu theo quy định. Số tiền này nguyên đơn đã tạm nộp nên bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn.

[7] Về án phí: ông Trần Văn T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 180, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Luật các tổ chức tín dụng;

- Căn cứ Nghị quyết số 04 ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (V2) về tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Trần Văn T1.

Buộc ông Trần Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền chưa thanh toán trong Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 tính đến ngày 23/9/2024 là 2.495.409.626 đồng (Hai tỷ bốn trăm chín mươi lăm triệu bốn trăm lẻ chín nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng), trong đó nợ gốc: 1.950.000.000 đồng (Một tỷ chín trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn: 153.408.364 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu bốn trăm lẻ tám nghìn ba trăm sáu mươi bốn đồng); nợ lãi quá hạn: 392.001.262 đồng (Ba trăm chín mươi hai triệu một nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng).

Kể từ ngày 24/9/2024, ông Trần Văn T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q (V2) tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 9496092.21 ngày 18/11/2021 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp ông Trần Văn T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền nêu trên, thì Ngân hàng TMCP Q (V2) được quyền đề nghị cơ quan Thi hành án xử lý theo pháp luật để thu hồi nợ đối với tài sản bảo đảm là thửa đất số 98, tờ bản đồ số 29, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai và tài sản gắn liền với đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền bản với đồ đất số CĐ 620943 do UBND tỉnh Đ cấp ngày 27/12/2016 cho ông Trần Đức T2 và bà Nguyễn Thị S) theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 6440392.21.696 ngày 23/11/2021 được Công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đồng Nai, số công chứng: 004420, Quyển số: 12/2021 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký thế chấp ngày 24/11/2021 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.

Trường hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán toàn bộ nợ vay, ông T1 có nghĩa vụ trả nợ đến khi thanh toán hết nợ vay.

  1. Về chi phí tố tụng:

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Trần Văn T1 phải chịu theo quy định. Chi phí này nguyên đơn đã tạm nộp nên ông Trần V1 có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

  1. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Ông Trần Văn T1 phải chịu 81.908.193 đồng (T3 mươi mốt triệu chín trăm lẻ tám nghìn một trăm chín mươi ba đồng) án phí.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền 37.083.953 đồng (Ba mươi bảy triệu không trăm tám mươi ba nghìn chín trăm năm mươi ba đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002463 ngày 07/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  1. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP Q (V2) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Trần Văn T1, ông Trần Đức T2, bà Nguyễn Thị S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS nhân dân TP Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/KDTM-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 177/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Quốc tế Việt Nam VIB tranh chấp hợp đồng tín dụng với Trần Văn Thao
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger