|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 177/2024/HNGĐ-ST Ngày 11-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Hùng
Ông Doãn Văn Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu P - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 132/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị M, nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Phạm Quang S, nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; hiện nay đang cai nghiện tự nguyện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy G, địa chỉ: Xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – chị Vũ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/6/2014. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Phạm Quang S chơi bời, nghiện ma túy, không chịu lao động. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình khuyên giải song anh S không thay đổi. Nay chị Vũ Thị M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân quá áp lực nên chị đề nghị Tòa án cho chị ly hôn với anh Phạm Quang S.
Về con chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S có một con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 06/6/2014. Hiện nay, con chung đang khỏe mạnh và phát triển bình thường. Ly hôn, chị Vũ Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng con chung vì anh Phạm Quang S đang cai nghiện tự nguyện ở Trung tâm C, huyện T, thành phố Hải Phòng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị xin tự thỏa thuận với anh Phạm Quang S nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị M xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận với anh Phạm Quang S, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị Vũ Thị M vắng mặt, chị Vũ Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2024 bị đơn – anh Phạm Quang S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh, thời gian kết hôn, thời gian mâu thuẫn vợ chồng anh thống nhất với lời khai của chị Vũ Thị M. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên giải nhưng không thành. Anh chưa có biện pháp khắc phục mâu thuẫn do anh S đang cai nghiện ma tuý. Nay, chị Vũ Thị M xin ly hôn với anh thì anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Trường hợp chị Vũ Thị M vẫn quyết tâm ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Họ tên, ngày tháng năm sinh của con chung, anh S thống nhất như chị Vũ Thị M trình bày. Khi ly hôn, anh đề nghị được nuôi dưỡng con chung chung. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung anh xin tự thỏa thuận với chị M nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trước thời điểm Covid năm 2019, anh làm lao động tự do nhưng sau đó do anh nghiện ma túy nên anh không làm việc gì.
Về tài sản chung: Anh và chị Vũ Thị M có tài sản chung nhưng anh tự thoả thuận với chị Vũ Thị M, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, con chung của chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S như chị Vũ Thị M, anh Phạm Quang S trình bày là đúng.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về điều luật áp dụng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Vũ Thị M: Xử cho chị Vũ Thị M ly hôn với anh Phạm Quang S. Về con chung: Giao con chung là Phạm Quang N, sinh ngày 06/6/2014 cho cho chị Vũ Thị M nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị M xin tự giải quyết với anh Phạm Quang S, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S đều xác định vợ chồng có tài sản chung, xin tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn, bị đơn là anh Phạm Quang S đang sinh sống tại huyện T, thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Vũ Thị M và bị đơn là anh Phạm Quang S đều vắng mặt. Chị Vũ Thị M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Phạm Quang S vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 02/6/2014, theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, anh Phạm Quang S nghiện ma túy, không chịu lao động để giúp đỡ vợ, phát triển kinh tế gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải song không đạt kế quả. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị M, xử cho chị Vũ Thị M ly hôn với anh Phạm Quang S.
[4] Về con chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S có một con chung là: Phạm Quang N, sinh ngày 06/6/2014. Hội đồng xét xử, xét thấy: Anh Phạm Quang S hiện nay đang cai nghiện tại Cơ sở Cai nghiện ma túy G, không có việc làm nên không có điều kiện kinh tế, thời gian để chăm sóc con chung. Mặt khác, cháu Phạm Quang N có nguyện vọng được ở với chị Vũ Thị M. Do đó để đảm bảo quyền lợi của con chung, cần giao con chung Phạm Quang N cho chị Vũ Thị M nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S đều xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S.
[5] Về tài sản chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S đều xin tự giải quyết với nhau về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vũ Thị M là nguyên đơn nên chị Vũ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị M ly hôn anh Phạm Quang S.
- Về con chung: Giao con chung tên là Phạm Quang N, sinh ngày 06/6/2014 cho chị Vũ Thị M nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S xin tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con chung giữa chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, xin tự giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về tài sản chung của chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S.
- Về án phí dân sự: Chị Vũ Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009951 ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị M và anh Phạm Quang S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hằng |
Bản án số 177/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 177/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mơ + Sâm
