Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 177/2024/DS-ST

Ngày 11-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Châu
  2. Ông Dư Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 428/2024/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng H); Địa chỉ: B B, N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu Q, sinh năm 1995 - Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng cá nhân, trú tại: Số A, đường T, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/7/2024 - có mặt).

- Bị đơn: Ông Lâm Quốc D (vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm F, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Ngân hàng H cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Thu Q trình bày:

Ngày 30-11-2023 Ngân hàng H và ông Lâm Quốc D ký kết Hợp đồng tín dụng hạn mức số 34930/23MN/HĐTD với hạn mức là 550.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Lãi suất 12%/năm, không cố định. Mục đích vay là bổ sung vốn chăn nuôi gà. Khoản vay trên được bảo đảm bằng tài sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC981633, số vào sổ CS 09535 do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 10-02-2022.

Tính đến ngày 29-3-2024 ông Lâm Quốc D còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 564.906.292 đồng (Gốc 550.000.000 đồng, lãi trong hạn 14.799.331 đồng, lãi quá hạn 106.961 đồng).

Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

  • Buộc ông Lâm Quốc D phải thanh toán một lần tổng số nợ gốc và lãi cho Ngân hàng H với tổng số tiền là 564.906.292 đồng trong đó: gốc 550.000.000 đồng, lãi trong hạn 14.799.331 đồng, lãi quá hạn 106.961 đồng.
  • Buộc ông Lâm Quốc D phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh đối với số nợ còn lại theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng; Khế ước nhận nợ đã ký kết với H kể từ sau ngày 29/3/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  • Trường hợp ông Lâm Quốc D không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho H, đề nghị phát mãi tài sản đảm bảo để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Lâm Quốc D đối với H. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Lâm Quốc D tại Ngân hàng thì ông Lâm Quốc D vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lâm Quốc D đã được Toà án Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án. Nhưng ông D không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cũng như tham gia phiên toà nhưng ông D đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, thời hạn giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố

2

tụng của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn ông Lâm Quốc D chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về sự vắng mặt của bị đơn, ông Lâm Quốc D đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên toà, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về tính hợp pháp của Hợp đồng tín dụng hạn mức số 34930/23MN/HĐTD ngày 30/11/2023 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26982/23MN/HĐBĐ, ngày 30/11/2023 được công chứng tại Văn phòng C, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD. Thấy rằng: Ngân hàng H uỷ quyền cho Ngân hàng H chi nhánh S ký kết Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất với ông Lâm Quốc D. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng là hợp pháp. Các đương sự thoả thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, tự nguyện ký kết, không bị lừa dối, ép buộc nên nội dung hợp đồng là hợp pháp.

[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền vốn 550.000.000 đồng. Theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 34930/23MN/HĐTD ngày 30/11/2023 giữa ông Lâm Quốc D với Ngân hàng H - Chi nhánh S, thì: Ông D vay của Ngân hàng số tiền: 550.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn chăn nuôi gà; Thời hạn cho vay: 12 tháng, từ ngày 07/12/2023 đến ngày 06/12/2024; Lãi suất trong hạn: 12,0%/năm áp dụng lãi suất cố định 03 tháng từ ngày giải ngân vốn vay, sau đó lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Phương thức trả nợ gốc: trả gốc khi đến hạn, trã nợ lãi 1 tháng/lần; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Sau khi ký Hợp đồng tín dụng hạn mức và Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 34930/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 06/12/2023 thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông D nhận đủ số tiền 550.000.000 đồng.

3

Ngân hàng đã cung cấp cho Tòa án bản sao có chứng thực, Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 34930/23MN/HĐTD ngày 30/11/2023, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 34930/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 06/12/2023. Theo hợp đồng và các chứng từ mà Ngân hàng cung cấp có chữ ký và chữ viết tên của bị đơn ông D.

Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 08/01/2024, ông D đã trả số tiền lãi trong hạn là 5.967.123 đồng (đóng lãi từ ngày 07/12/2023 đến ngày 08/01/2024). Hiện nay, dư nợ gốc còn lại: 550.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 345.954.813 đồng, tiền lãi quá hạn là 10.552.594 đồng. Tổng cộng vốn và lãi còn nợ là: 1.731.507.407 đồng.

Do ông D vi phạm nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết nên Ngân hàng thông báo cho ông D chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, xử lý nợ theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và yêu cầu ông D thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 10/9/2024 là 597.483.679 đồng (trong đó vốn gốc là 550.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 46.126.726 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 1.356.953 đồng) là có căn cứ chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu trả lãi của Ngân hàng: Theo Hợp đồng tín dụng hạn mức và Giấy đề nghị giấy ngân kiêm khế ước trả nợ mà hai bên đã ký kết thì, lãi suất cho vay trong hạn 12,0%/năm, áp dụng lãi suất cố định 03 tháng từ ngày giải ngân vốn vay, sau đó lãi suất được điều chỉnh 3 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Phương thức trả nợ gốc: trả gốc khi đến hạn, trã nợ lãi 1 tháng/lần; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 13 Thông tư số: 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng và khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng; Sau khi vay, ông D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền vốn và tiền lãi theo thỏa thuận.

Ngân hàng H yêu cầu ông D phải thanh toán số tiền lãi tính đến hết ngày 10/9/2024, tiền lãi trong hạn: 46.126.726 đồng, tiền lãi chậm trả lãi là 1.356.953 đồng là phù hợp với thỏa thuận mà hai bên đã ký kết và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và số tiền lãi nêu trên nguyên đơn đã tính đúng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 11/9/2024 cho đến khi ông D trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng

4

như theo quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Xét yêu cầu xử lý phát mãi tài sản trong trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ. Theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 26982/23MN/HĐBĐ, ngày 30/11/2023 được công chứng tại Văn phòng C, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐG thì phía Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản đã thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ trong trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên có căn cứ chấp nhận. Tài sản thế chấp là: Phần đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 420, tờ bản đồ số 63, diện tích 153,2m² tọa lạc ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 981633 số vào sổ cấp GCN: CS09535 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 10/02/2022 cho bà Nguyễn Thị Thanh T. Đến ngày 27/11/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M chỉnh lý biến động sang tên cho ông Lâm Quốc D.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lâm Quốc D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Lâm Quốc D phải chịu chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 990.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Các Điều 320, 357, 465 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ: Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ: Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

5

  1. Buộc bị đơn ông Lâm Quốc D trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền còn nợ tổng cộng là 597.483.679 đồng (trong đó, tiền vốn gốc 550.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn tính đến ngày 10/9/2024 là 46.126.726 đồng và tiền lãi chậm trả lãi là 1.356.953 đồng).

    Kể từ ngày 11/9/2024 bị đơn ông Lâm Quốc D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hạn mức số: 34930/23MN/HĐTD ngày 30/11/2023, Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 34930/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 06/12/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Trong trường hợp bản án có hiệu lực pháp luật mà bị đơn ông Lâm Quốc D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đủ số tiền gốc và lãi phát sinh, nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Tài sản thế chấp là: Phần đất và toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 420, tờ bản đồ số 63, diện tích 153,2m² tọa lạc ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 981633 số vào sổ cấp GCN: CS09535 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 10/02/2022 cho bà Nguyễn Thị Thanh T. Đến ngày 27/11/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M chỉnh lý biến động sang tên cho ông Lâm Quốc D.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Ông Lâm Quốc D phải chịu án phí dân sự số tiền là 27.899.347 đồng.
    • Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.298.000 đồng theo biên lai số 0001626 ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
  4. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Lâm Quốc D phải chịu chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 990.000 đồng. Do nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Thành phố H đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng nên bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 990.000 đồng.
  5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

6

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TPST;
  • - Chi cục THADS TPST;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Lê Phước Tài

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 177/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TC HĐ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger