Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/HSST

Ngày: 07/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Xuyên.
Bà Nguyễn Thị Hải Yến.

- Thư ký phiên toà: Ông Tô Ngọc Lâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Lập Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 172/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 49/2024/QÐST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Tạ Văn B - Sinh ngày 07/02/1977 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Tạ Văn H, sinh năm 1947 (đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1949. Vợ: Đỗ Thị H1, sinh năm 1978, có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2003. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 895 ngày 23/12/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  2. Họ và tên: Tạ Văn H2 - Sinh ngày 01/01/1980 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: N. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 06/12. Họ tên cha: Tạ Văn Đ, sinh năm 1945. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1948. Vợ: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983, có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 894 ngày 23/12/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  3. Họ và tên: Đặng Văn N - Sinh ngày 07/01/1981 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Đặng Văn M, sinh năm 1953. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1953. Vợ: Trịnh Thùy D1, sinh năm 1980, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 29/12/2023. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 891 ngày 23/12/2023 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  4. Họ và tên: Tạ Văn M1 - Sinh ngày 23/11/1982 tại Hà Nội. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Căn cước công dân số: [...]. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Họ tên cha: Tạ Văn V1, sinh năm 1953. Họ tên mẹ: Trần Thị T1, sinh năm 1957. Vợ: Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1990, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014. Tiền sự: Không. Tiền án: Không. Tạm giữ: Không. Tạm giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. D, chỉ bản số 473 ngày 05/6/2024 của Công an huyện S, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Phong T2, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  2. Ông Hoàng Văn H4, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  3. Ông Tạ Đức T3, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

  4. Ông Tạ Văn B1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 23/12/2023, Công an xã H, huyện S bắt quả tang tại nhà Tạ Văn B, sinh năm 1972 ở thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội, B đang có hành vi nhận mua lại bảng kê ghi số lô, số đề của Tạ Văn H2, sinh năm 1980, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội bán cho khách vào ngày 23/12/2023.

Tang vật thu giữ: 01 bảng kê do B lập, 01 bảng kê do H2 lập có nội dung ghi các con số và có ký hiệu 21/12; 22/12; 23/12, 01 điện thoại Oppo màu đen của Tạ Văn B, 01 điện thoại Oppo của Tạ Văn H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone của Đặng Văn N.

Quá trình điều tra làm rõ: Do quen biết từ trước, Tạ Văn BTạ Văn H2 cùng bán số lô, số đề cho khách, sau đó H2 nộp lại bảng kê của H2 cho B. Tạ Văn H2, Tạ Văn B cùng bán 23.000 đồng/01 điểm lô cho khách, nhưng sau 18 giờ hàng ngày, H2 chuyển cho B 22.000 đồng/01 điểm lô, H2 được hưởng chênh lệch là 1.000 đồng/01 điểm lô, H2 được hưởng lợi là 15%/tổng số tiền đề thu được của khách hàng. Kết quả số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng 18 giờ 15 phút hàng ngày, lấy hai số cuối của giải đặc biệt trả thưởng đề, số lô so sánh với hai số cuối của tất cả các giải. Tỷ lệ thắng thua được tính như sau: Đối với số lô, 1 điểm lô trúng nhân với giá 80.000 đồng; đề 1.000 đồng nhân với 80.000 đồng. B sẽ thanh toán tiền cho khách trúng thưởng ghi trực tiếp hoặc thông qua H2 vào ngày hôm sau. Cụ thể:

Ngày 23/12/2023, số tiền Tạ Văn H2 tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với số tiền là 20.095.000 đồng, gồm tiền bán số lô, số đề H2 đã vào bảng để chuyển cho B là 19.885.000 đồng (trong đó số tiền bán đề là 1.485.000 đồng, số tiền bán số lô là 18.400.000 đồng) và tiền bán số lô, số đề H2 chưa kịp vào bảng kê là 210.000 đồng.

Điều tra làm rõ ngày 23/12/2023, Tạ Văn H2 bán số lô, số đề cho 06 người, còn lại là bán cho khách vãng lai, không rõ tên tuổi và địa chỉ của khách, cụ thể:

  • Nguyễn Thị Phong T2, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã H, huyện S, Hà Nội mua 345.000 đồng tiền 05 số lô (99, 67, 84, 61, 63) mỗi số 3 điểm.

  • Hoàng Văn H4, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã H, S, Hà Nội mua 210.000 đồng tiền gồm: 02 số đề (48, 84) mỗi số 25.000 đồng; 02 số đề (67, 76) mỗi số 10.000 đồng; 01 số đề 84 giá 100.000 đồng; cặp đề 48 (8 số: 39, 93, 34, 43, 89, 98, 84, 48) mỗi số 5.000 đồng.

  • Tạ Văn M1, sinh năm 1981, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội mua 2.300.000 đồng tiền 02 số lô (09, 41) mỗi số 50 điểm.

  • Tạ Đức T3, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội) mua 390.000 đồng tiền số lô, số đề gồm: 160.000 đồng tiền số đề: cặp đề 26 (8 số: 17, 71, 12, 21, 67, 76, 62, 26) mỗi số 10.000 đồng, 02 số đề (26, 62) mỗi số 20.000 đồng, 04 số đề (05, 50, 17, 71) mỗi số 10.000 đồng; 230.000 đồng tiền số lô 01 số lô 11 – 10 điểm.

  • Tạ Văn B1, sinh năm 1966, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội, mua 80.000 đồng tiền 04 số đề (30, 03, 98, 96) mỗi số 20.000 đồng.

  • Đặng Văn N, sinh năm 1980, trú tại thôn T, xã H, S, Hà Nội mua 5.750.000 đồng tiền 03 số lô (40, 41, 42) mỗi số 50 điểm, 01 số lô 43 – 100 điểm.

Ngày 22/12/2023, số tiền Tạ Văn B đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề là 19.030.000 đồng gồm: Tiền bán số lô, số đề là 10.230.000 đồng. Tiền trúng thưởng số lô, số đề là 8.800.000 đồng cụ thể: Số tiền lô, tiền đề Tạ Văn B nhận bảng của Tạ Văn H2 là 2.670.000 đồng. Số tiền B trực tiếp ghi số lô, số đề cho khách là 7.060.000 đồng (trong đó, số tiền Bình bán số lô là 4.830.000 đồng, số tiền Bình bán số đề là 2.230.000 đồng). Căn cứ theo kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 22/12/2023, tổng số tiền B thắng lô, đề được là 6.000.000 đồng. Điều tra làm rõ ngày 22/12/2023, Bình bán số lô, số đề cho Lê Xuân H5, sinh năm 1977, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện S, Hà Nội, H5 mua 500.000 đồng tiền lô, đề 02 số lô (45, 48) mỗi số 10 đồng, 02 số đề (48, 45) mỗi số 20.000 đồng.

Ngày 22/12/2023, Tạ Văn H2 bán số lô, số đề cho 03 người, cụ thể:

  • Số tiền Tạ Văn M1 đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với H2 là 5.200.000 đồng gồm: Tiền Mừng mua số lô, số đề của H2: “01 số lô 09 - 30 điểm, 02 số lô (59, 95) mỗi số 35 điểm, 02 số đề (46, 64) mỗi số 50.000 đồng” là 2.400.000 đồng và tiền Mừng trúng thưởng trúng số lô 59 được 2.800.000 đồng (35 đồng x 80.000 đồng).

  • Số tiền Tạ Đức T3 đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với Tạ Văn H2 là 1.000.000 đồng gồm: Tiền Thêm mua số đề của H2: “20 số đề [số có đầu 1 (10 số), số có đít 1 (10 số)] mỗi số 5.000 đồng, 07 số đề (17, 71, 24, 42, 45, 54, 41) mỗi số 10.000 đồng, 01 số đề 14 giá 30.000 đồng” là 200.000 đồng và tiền Thêm trúng thưởng số đề 11 được 800.000 đồng (10.000 đồngx80.000 đồng).

  • Số tiền Tạ Văn B1 đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề với H2 là 1.930.000 đồng gồm: Tiền B1 mua số lô, số đề của H2: “05 số đề (88, 89, 08, 42, 11) mỗi số 20.000 đồng; cặp 49 (04 số: 44, 99, 49, 94) mỗi số 20.000 đồng; 01 số đề 40 giá 100.000 đồng, 01 số đề 99 giá 50.000 đồng” là 330.000 đồng và tiền B1 trúng số đề 11 được 1.600.000 đồng (20.000 đồng x 80.000 đồng).

Ngày 21/12/2023, số tiền Tạ Văn B đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề là 21.410.000 đồng gồm tiền bán số lô, số đề là 10.210.000 đồng, tiền trúng thưởng số lô, số đề là 11.200.000 đồng. Cụ thể: Số tiền đề Tạ Văn B nhận bảng của Tạ Văn H2 là 305.000 đồng; số tiền B trực tiếp bán số lô, số đề cho khách là 9.905.000 đồng (trong đó, số tiền Bình bán số lô là 6.440.000 đồng, số tiền Bình bán số đề là 3.465.000 đồng). Căn kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 21/12/2023, B thắng được số tiền là 11.200.000 đồng. Điều tra làm rõ ngày 21/12/2023, Tạ Văn H2 bán 210.000 đồng số lô, số đề cho Tạ Văn B1, cụ thể: 06 số đề (03, 31, 79, 87, 88, 89) mỗi số 20.000 đồng, 03 số đề (00, 11, 66) mỗi số 30.000 đồng (Bảy không trúng thưởng).

Quá trình điều tra Tạ Văn B khai, sau khi bán số lô, đề cho khách sẽ chuyển lại bảng cho Nguyễn Minh D2, sinh năm 1965, trú tại thôn H, xã H, huyện S, Hà Nội để được hưởng chênh lệch là 1.000 đồng/01 điểm lô và hưởng lợi là 15%/tổng số tiền đề thu được của khách hàng. Tuy nhiên D2 khai không nhận bảng, không mua bán số lô, số đề với Tạ Văn B. Ngoài lời khai của B, không có tài liệu, chứng cứ gì khác chứng minh D2 nhận bảng lô đề của B nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại cáo trạng số 133/VKS-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã truy tố:

Các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Tạ Văn M1, Đặng Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Các bị cáo Tạ Văn M1, Đặng Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    • + Tạ Văn B với mức án từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 30 đến 36 tháng.

    • + Tạ Văn H2 với mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 24 đến 30 tháng.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

    • + Đặng Văn N với mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.

    • + Tạ Văn M1 với mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 12 đến 18 tháng.

  • Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Toà án:

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo vì các bị cáo không có thu nhập ổn định.

  • Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 điện thoại Oppo; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bảng kê có nội dung ghi các con số và có ký hiệu 21/12; 22/12; 23/12.

  • Truy thu số tiền do phạm tội mà có của: Tạ Văn H2 20.095.000 đồng, Tạ Văn B 1.430.000 đồng. Tạ Văn M1 2.800.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

  • Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

{2} Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Khoảng 18 giờ ngày 23/12/2023, Cơ quan Công an huyện S phát hiện bắt quả tang tại nhà Tạ Văn Bthôn H, xã H, huyện S, Hà Nội, Tạ Văn BTạ Văn H2 đang có hành vi tổ chức đánh bạc với hình thức bán số lô, số đề cho các con bạc. Cụ thể:

Ngày 21/12/2023 Tạ Văn B tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với số tiền là 21.410.000 đồng và ngày 22/12/2023 Tạ Văn B tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với số tiền là 19.030.000 đồng.

Ngày 23/12/2023, Tạ Văn H2 tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề với tổng số tiền là 20.095.000 đồng.

Ngày 22/12/2023, Tạ Văn M1 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề của Tạ Văn H2 với số tiền là 5.200.000 đồng.

Ngày 23/12/2023, Đặng Văn N đánh bạc dưới hình thức mua số lô của Tạ Văn H2 với số tiền là 5.750.000 đồng.

Vì vậy, đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, tội và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Đủ cơ sở kết luận các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Văn M1 phạm tội “Đánh bạc”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số 133/VKS-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322; truy tố Đặng Văn N, Tạ Văn M1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm trật tự xã hội mà còn gây ảnh hưởng xấu trong nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do tham lam tư lợi nhưng không chịu lao động lương thiện nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm nhưng không có tổ chức vì không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 là người tổ chức bán số lô, số đề nên phải chịu mức hình phạt cao hơn. Các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Văn M1 là người mua số lô, số đề có vai trò đơn giản.

{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng,

{2.2} Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; Các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Văn M1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Đặng Văn N có đơn xin đầu thú; Bị cáo Tạ Văn B có thời gian phục vụ trong quân dôdij và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; Các bị cáo đều có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

{3} Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với đối với các bị cáo là phù hợp pháp luật.

{4} Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 điện thoại Oppo; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bảng kê có nội dung ghi các con số và có ký hiệu 21/12; 22/12; 23/12.

Cần truy thu số tiền do phạm tội mà có của các bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể: Tạ Văn H2 20.095.000 đồng; Tạ Văn B 1.430.000 đồng; Tạ Văn M1 2.800.000 đồng.

{5} Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.

{6} Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Tạ Văn B, Tạ Văn H2 phạm tội: Tổ chức đánh bạc. Các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Văn M1 phạm tội: Đánh bạc.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  1. Tạ Văn B 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

  2. Tạ Văn H2 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.

- Căn cứ khoản 1 Điều 322; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  1. Đặng Văn N 08 (T4) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án.

  2. Tạ Văn M1 08 (T4) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao Tạ Văn B, Tạ Văn H2, Đặng Văn N, Tạ Văn M1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • Truy thu số tiền do phạm tội mà có của các bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước, cụ thể: Tạ Văn H2 20.095.000 đồng (Hai mươi triệu, không trăm chín mươi lăm nghìn đồng); Tạ Văn B 1.430.000 đồng (Một triệu, bốn trăm ba mươi nghìn đồng); Tạ Văn M1 2.800.000 đồng (Hai triệu, tám trăm nghìn đồng).

  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Oppo màu đen; 01 điện thoại Oppo; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

  • Tịch thu tiêu huỷ: 02 bảng kê có nội dung ghi các con số và có ký hiệu 21/12; 22/12; 23/12, có biên bản bắt người phạm tội quả tang kèm theo (Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

  • Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phạt bị truy thu, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền bị truy thu theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Án xử công khai, sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ và chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình./.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hà Nội.
  • - VKSNDTP Hà Nội.
  • - VKSND huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Chi cục THA huyện Sóc Sơn.
  • - Lưu hồ sơ.

T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đỗ Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/HSST ngày 07/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 177/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: aa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger