|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 188/2024/HSST
Ngày 17/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Đạt.
Ông Nguyễn Văn Cát.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Tuấn Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 165/2023/HSST ngày 31/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXX-TA ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Kim C; Sinh năm: 1980; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; HKTT: số A tổ H phường P, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Bố : Trần Văn H- Đã chết; Mẹ : Trần Thị Kim T- SN: 1958; A, chị, em ruột: gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Bùi Thị L, SN: 1976, con: có 02 con, con lớn SN 2008, con nhỏ SN 2016; Tiền án, tiền sự: không. D chỉ bản số 112 lập ngày 01/02/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.
* Nhân thân:
- Bản án số 46/2008/HSST ngày 04/6/2008 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, TP. xử phạt 12 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/11/2008.
- Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở Giáo dục bắt buộc số 20/2019/QĐ-XLHC ngày 28/3/2019 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông. Chấp hành xong ngày 16/4/2021.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 470/QĐ-XPHC ngày 05/10/2015 của Công an huyện T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt ngày 31/1/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Việt A, sinh năm 1998; HKTT: xã C (nay là T), huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt
- Chị Vũ Thị X, sinh năm 1988; HKTT: thôn P, xã H, huyện T, Hà Nội. Vắng mặt
- Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1995; HKTT: thôn C, xã K, huyện K, Hòa Bình. Vắng mặt
- chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1995; HKTT: thôn A, xã H, huyện Ứ, Hà Nội. Vắng mặt
- chị Dương Thị L1, sinh năm 1993; HKTT: bản Đuốc, xã Y, huyện B, Cao Bằng. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, sinh năm 1976; trú tại: xã C, huyện Q, thành phố Hà Nội. có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 45 ngày 02/12/2018, khi Trần Kim C biết thông tin vợ C là chị Bùi Thị L (Sinh năm: 1976, HKTT: xã C, huyện Q, Hà Nội) cùng con đang ở tòa nhà V H, phường P, quận H nên C đến tòa nhà trên tìm thì được biết chị L và con đang ở tầng 13 nhưng không rõ phòng nào. Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 03/12/2018, C đi xe taxi đến quán tẩm quất, đấm lưng LinhBou ở địa chỉ số A, tổ A phường P, quận H do chị Lam 1 chủ để hỏi nhân viên của quán nơi ở của chị L. Tại quán lúc này có các nhân viên gồm: chị Nguyễn Thị Việt A (Sinh năm: 1998, HKTT: xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình); chị Vũ Thị X (Sinh năm: 1988, HKTT: thôn P, xã H, huyện T, Hà Nội); chị Bùi Thị H1 (Sinh năm: 1995; HKTT: xã K, huyện K, Hòa Bình); chị Nguyễn Thị Q (Sinh năm: 1995, HKTT: xã T, huyện Ứ, Hà Nội) và chị Dương Thị L1 (Sinh năm:1993; HKTT: xã Y, huyện B, Cao Bằng) là người đến quán chơi. Các nhân viên trên đang ngồi ở bàn uống nước gần cửa ra vào, thì C đi vào nhà rồi đóng cửa quán, C hỏi nhóm nhân viên có biết chị L đang ở đâu không? Khi nhóm nhân viên trả lời không biết thì C đe dọa sẽ đánh từng người. C đứng cạnh chỗ chị Q ngồi phía ngoài, C hỏi: “Con L đâu?”, chị Q nói “không biết” thì C đã dùng tay phải túm tóc, tát Q 01 cái, dùng chân đạp vào bụng chị Q 02 cái. Sau đó, C một tay cầm lấy 01 đôi đũa bằng gỗ dài khoảng 25cm ở trên mặt bàn giơ lên nói với nhóm nhân viên “chúng mày đưa hết điện thoại đây”. Sau đó, C lấy 01 điện thoại Iphone 6s Plus của chị X, lấy 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng của chị H1, lấy 01 điện thoại Vivo màu trắng của chị L1, lấy 01 điện thoại Iphone 5 màu vàng đồng của chị Việt A. Lúc này, chị Q đang gọi điện thoại thì C tát Q 01 cái, dùng chân đạp 01 cái vào bụng Q và bảo “mày dám gọi điện à” rồi giật luôn điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng của Q, tất cả điện thoại của các nhân viên trên Chi cất vào túi quần.
Sau đó C đi vào bên trong phòng ngủ cầm 01 dao có chuôi bằng gỗ kích thước khoảng 30cm x 3cm kiểu dao gọt hoa quả đi ra phía V, một tay túm tóc Việt A, một tay dơ dao về phía Việt A hỏi “mày có biết vụ tao bị đánh ở trên Hòa Bình, mày biết T1 trọc không”, Việt A nói “không biết”. Thấy vậy, X nói với C:"chị L ở tầng 13 chung cư H nhưng không rõ phòng bao nhiêu". C vứt dao xuống bàn rồi cầm tay kéo Việt A ra ngoài cửa và bảo “mày đi theo tao”. Việt A sợ quá bảo với H1 “chị đi theo em”, nhưng C không đồng ý. Sau đó C bảo nhân viên quán đưa khóa cửa quán cho C rồi C khóa cửa ngoài bên trong lúc này có Q, L1, X, H1. Sau đó C đưa Việt A ra đầu đường bắt taxi đi về nhà C ở số A ngách B cụm D, tổ H, phường P, quận H. Khi taxi đến C nói với Việt A “mày vào đi”, rồi lôi Việt A vào bên trong xe. Khi về đến nhà C, C cùng Việt A đi vào nhà, C khóa cửa ở bên trong và bắt Việt A ngồi ở giường tầng 1. C hỏi Việt A về việc C bị đánh ở trên Hòa Bình, Việt A bảo “em không biết". Chi lấy điện thoại của các nhân viên từ túi quần ra để ở giường và tắt hết nguồn. Khi thấy C lên gác xép thì Việt A đã cầm tất cả điện thoại của các nhân viên cho vào túi xách của mình. Sau khi cơ quan công an đến thì C đã mở cửa và Cơ quan Công an đã đưa C cùng những người liên quan về làm việc.
Đối với các chị Nguyễn Thị Q, Nguyễn Thị X1, Dương Thị L1, Bùi Thị H1 sau khi bị C khóa cửa ngoài không có chìa khóa mở, H1 còn 01 chiếc điện thoại đã gọi cho chị L chủ quán đến mở cửa quán.
Ngày 03/12/2018, chị Nguyễn Thị Việt A, chị Nguyễn Thị Q, chị Dương Thị L1, chị Vũ Thị X đã có đơn trình báo sự việc đến cơ quan Công an phường P.
Vật chứng tạm giữ do chị Nguyễn Thị Việt A giao nộp ngày 03/12/2018:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 354420060006048, có ốp lưng bằng nhựa (máy điện thoại của chị Bùi Thị H1; chị H1 trình bày mua tháng 8/2018 giá 7.000.000 đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V1 Max, màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng, có thẻ sim (máy điện thoại của chị Dương Thị L1; chị L1 trình bày trị giá điện thoại là 3.500.000 đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng hồng, đã qua sử dụng, có ốp bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng, I: 353328077273082, có thẻ sim (máy điện thoại của chị Vũ Thị X; chị X trình bày mua tháng 10/2018 giá 7.200.000 đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng, đã qua sử dụng, Imei: 354388069066109, có thẻ sim(máy điện thoại của chị Nguyễn Thị Q; chị Q trình bày, mua tháng 6/2018 giá 7.000.000 đồng).
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, dung lượng: 16GB, màu: vàng, đã qua sử dụng, có thẻ sim (máy điện thoại của chị Nguyễn Thị Việt A; Việt A trình bày mua tháng 11/2018 giá 1.500.000 đồng).
Tạm giữ của chị Nguyễn Thị Q: 01 đôi đũa tre dạng thân tròn, chiều dài 25 cm, màu nâu là đôi đũa có đặc điểm tương đồng với với đôi đũa mà Trần Kim C sử dụng để đe dọa chị Q và những người khác.
* Kết quả định giá tài sản
Ngày 25/12/2023 và ngày 09/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H ra Yêu cầu định giá tài sản số 267 và số 866 đối với 05 chiếc điện thoại trên và 02 ốp lưng điện thoại.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 306/KL-HĐĐGTS ngày 25/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận H, kết luận:
“- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng, đã qua sử dụng, số Imei: 354420060006048, đã qua sử dụng trị giá: 5.600.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V1 Max, màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng, trị giá: 2.800.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng hồng, đã qua sử dụng trị giá 5.760.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, dung lượng: 16GB, màu vàng, đã qua sử dụng, Imei: 354388069066109, trị giá 5.600.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, dung lượng: 16GB, màu: vàng, đã qua sử dụng trị giá 1.200.000 đồng.
Tổng giá trị của 05 chiếc điện thoại trên là 20.960.000 đồng”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 80/KL-HĐĐGTS ngày 09/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận H, kết luận: “không xác định được giá trị 02 ốp lưng điện thoại do không có nhãn hiệu, mẫu mã, thông số kỹ thuật, xuất xứ hàng hóa.”.
Cáo trạng số 149/CT-VKS-HĐ ngày 30/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Trần Kim C về tội " Cướp tài sản " theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Kim C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được nhận lại tài sản nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung: Có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 03/12/2018, tại quán tẩm quất, đấm lưng LinhBou ở địa chỉ số A, tổ A phường P, quận H, Trần Kim C đã có hành vi chửi bới, dùng tay túm tóc, tát, dùng chân đạp chị Nguyễn Thị Q, dùng 01 đôi đũa tre dạng thân tròn, chiều dài 25 cm, màu nâu đe dọa chiếm đoạt 05 chiếc điện thoại của các chị Nguyễn Thị Việt A, chị Vũ Thị X, chị Bùi Thị H1, chị Nguyễn Thị Q và chị Dương Thị L1, tổng trị giá 20.961.000 đồng (trong đó có 1000 đồng kẹp trong ốp điện thoại của chị Vũ Thị X). Hành vi của Trần Kim C đã phạm tội Cướp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tinh thần, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội.
Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: từ việc muốn biết nơi ở của vợ con, Trần Kim C đã có hành vi chửi bới, đánh, đe dọa, chiếm đoạt tài sản của bị hại; do đó cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải của bị cáo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho các bị hại, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt tương xứng đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[4] Đối với hành vi khóa cửa quán T2, số A tổ A phường P, quận H của Trần Kim C: địa chỉ trên là nơi làm việc của chị Q, H1, L1 và X. Hành vi diễn ra trong thời gian ngắn. Sau khi C đi, chị H1 đã liên lạc với chủ quán là chị L đến mở cửa nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với hành vi Trần Kim C đưa chị Nguyễn Thị Việt A về nhà mục đích của C là để hỏi Việt A xem ai đã đánh C tại Hòa Bình, C không đánh đập, đe dọa gì chị Việt A, do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Kim C phạm tội "Cướp tài sản".
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo Trần Kim C phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Trần Kim C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Văn |
Bản án số 188/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG về hình sự - cướp tài sản
- Số bản án: 188/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Kim C cướp tài sản
