TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/HS-ST
Ngày 18 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Lệ Chi
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024, đối với các bị cáo:
- Lê Bích X, sinh năm 1990 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Ấp Thị Tường B, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở hiện nay: Số C T, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn P, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Phúc G, sinh năm 1966; có 01 em sinh năm 1991; chồng tên Trương Văn C, sinh năm 1988; có 02 con, lớn sinh ngày 01/9/2021, nhỏ sinh ngày 27/01/2024; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 398/2023/HS-ST. Bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Thế H, sinh năm 1999 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A, ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Thế H1, sinh năm 1963 và bà Thạch Thị H2, sinh năm 1972; có 01 em sinh năm 2000; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 26/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 220/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/8/2022, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 22/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa đạt) tại bản án số 370/2023/HS-ST. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam X1. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Phạm Hoàng C1, sinh năm 1981 tại tỉnh Hậu Giang; thường trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn H3, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1953; có 03 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1971 và nhỏ nhất là bị cáo); vợ tên Trần Thị Cẩm G1, sinh năm 1990, có 04 người con (lớn sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án: Ngày 18/7/2002, bị Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây mất trật tự công cộng” tại bản án số 28/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm; Ngày 13/11/2003, bị Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) xử phạt 14 tháng tù tội “Gây mất trật tự công cộng” tại bản án số 52/HSST, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 11/4/2004 nhưng chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1969; địa chỉ: Số A, đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ngô Duy M, sinh năm 1966. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Hoàng C1, Lê Bích X, Nguyễn Thế H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý (loại ma túy Methamphetamine).
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 10/7/2023, X đặt xe mô tô công nghệ grap đi đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai để gặp người tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá để sử dụng (Xoàn biết T bán ma tuý là do bạn bè giới thiệu) thì được T đưa cho 01 túi nylon miệng hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh. Sau khi có ma tuý và nỏ thuỷ tinh, X cất vào túi da màu đỏ của Xoàn nhằm mục đích để sử dụng rồi quay lại nhà số C khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, X cùng bạn trai là Nguyễn Thế H và Phạm Hoàng C1 với con gái của X là Nguyễn Lê Bích N, sinh năm 2021 đi đến khách sạn “Thiên Thiêu” địa chỉ số A đường T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương thuê phòng nghỉ để X chuẩn bị đi xin việc hoặc về quê ở tỉnh Cà Mau. Khi vào khách sạn H trực tiếp gặp quản lý khách sạn “Thiên Thiêu” để thuê phòng 205 và trực tiếp trả tiền phòng là 540.000 đồng (số tiền thuê phòng 2 ngày) bằng tiền riêng của H. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, X lấy túi da màu đỏ chứa bịch nylon có ma tuý và nắp chai nhựa gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút nhựa ra để sử dụng ma túy. Thấy vậy, H liền lấy nắp chai nhựa gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút nhựa gắn vào chai nhựa (ma tuý và nỏ thuỷ tinh là của X đem theo, để trong túi da màu đỏ H và C1 không biết). Sau đó, X lấy một phần ma tuý bỏ vào bộ dụng cụ nấu để X, C1 và H cùng sử dụng, số ma tuý còn lại Xoàn cất lại trong túi da màu đỏ (H không biết). Đến 21 giờ 00 phút ngày 11/7/2023, X tiếp tục lấy một phần ma tuý bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý rồi nấu cho X, C1 và H cùng sử dụng, số ma tuý còn lại X tiếp tục bỏ lại vào trong túi da màu đỏ, sau khi sử dụng xong thì X, C1, H cùng đi ngủ. Đến 10 giờ 30 phút ngày 12/7/2023, lực lượng Công an phường Đ, thành phố D tiến hành kiểm tra kiểm tra hành chính khách sạn “Thiêu Thiêu”. Lúc này, nghe tiếng gõ cửa nên H liền lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý tháo rời ra và lấy nắp chai có gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút nhựa cất vào túi quần của Chủ treo trên cửa sổ còn Chủ cầm lấy túi da màu đỏ của X có chứa túi ma tuý ném xuống gầm giường trên nền gạch nhằm che giấu khi lực lượng Công an kiểm tra thì không bị phát hiện. Khi lực lượng Công an kiểm tra thì phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ở trong túi quần của Chủ treo trên cửa sổ và trong túi da màu đỏ có 01 gói nylon miệng hàn kín chứa tinh thể màu trắng dưới gầm giường, trên nền gạch mà C1 cầm ném xuống. Lực lượng Công an phường Đ tiến hành lập biên bản người phạm tội quả tang niêm phong tang vật và đưa X, Chủ, H về trụ sở. Công an phường Đ lập hồ sơ vụ việc chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D xử lý theo quy định. Tại Cơ quan Công an thành phố D, X, Chủ, H đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh bên trong nỏ thuỷ tinh chứa chất màu nâu.
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa đề nghị tịch thu tiêu hủy; 01 túi da màu đỏ.
Tại bản Kết luận giám định số: 420/PC09, ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và 01 nỏ thuỷ tinh bên trong nỏ thuỷ tinh chứa chất màu nâu gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: M1 = 0,3252 gam; M2 = 0,0072 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng là: 0,3324 gam.
Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 420/PC09 ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.
Ngày 21 tháng 7 năm 2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; sau đó ra quyết định khởi tố bị can đối với Lê Bích X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 249 và khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Phạm Hoàng C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 18/02/2024, ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thế H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 109/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Bích X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm a, b khoản 2 Điều 255 và Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Phạm Hoàng C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); truy tố bị cáo Nguyễn Thế H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Bích X từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng Điểm o khoản 2 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng Chủ t 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm tù.
- - Áp dụng Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.
- Xử lý vật chứng: 01 bì thư được niêm phong 420/PC09 ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa 0,3051 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa cần tịch thu tiêu hủy; 01 túi da màu đỏ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho X, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Đối với hành vi của Nguyễn Thế H khi lực lượng Công an kiểm tra đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý bỏ vào túi quần của Chủ rồi treo trên cửa sổ. Qua kiểm tra phát hiện có ma túy với khối lượng theo kết quả giám định là M2 = 0.0072 gam loại Methamphetamine, do chưa đủ định lượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo X và bị cáo C1 không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, xử lý vật chứng đồng thời xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại đơn xin giải quyết. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt bị cáo H xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định:
- Hành vi 02 lần cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy vào ngày 10/7/2023 và ngày 11/7/2023 để X, C1, H cùng sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ 0,3324 gam ma tuý loại Methamphetamine trong túi da màu đỏ sau khi tổ chức cho bị cáo H và bị cáo C1 sử dụng nhằm mục đích để sử dụng của Lê Bích X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điểm a, b khoản 2 Điều 255 và Điểm c khoản 1 Điều 249, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Hành vi của Nguyễn Thế H cung cấp địa điểm (thuê và trả tiền phòng 205 của khách sạn T1), đồng ý cho X bỏ ma tuý ra để cho H, C1 và X sử dụng, đồng thời hỗ trợ Xoàn gắn dụng cụ (nắp nhựa gắn nỏ thuỷ tinh và ống hút nhựa) làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để cho X, H, C1 cùng sử dụng 02 lần vào ngày 10/7/2023 và ngày 11/7/2023 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại Điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Phạm Hoàng C1 có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Ngày 12/7/2023, biết gói ma túy của X cất giấu trong túi da màu đỏ, có khối lượng 0,3252 gam ma tuý loại Methamphetamine nhưng cố tình ném xuống gầm giường nhằm che giấu khi lực lượng Công an kiểm tra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm o, khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Cáo trạng số 109/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo X và H thực hiện là rất nghiêm trọng, bị cáo C1 thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
- Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn nên không xem là phạm tội có tổ chức.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H có tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tình tiết này được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Các bị cáo là những người nghiện ma túy; bị cáo Nguyễn Thế H, Lê Bích X có nhân thân xấu.
- Về xử lý vật chứng: 01 bì thư được niêm phong 420/PC09, ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa 0,3051 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 túi da màu đỏ cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với người đàn ông tên T bán ma túy cho X, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đang tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
- Đối với hành vi của Nguyễn Thế H khi lực lượng Công an kiểm tra đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ở trong túi quần của Chủ treo trên cửa sổ. Qua kiểm tra phát hiện có ma túy với khối lượng theo kết quả giám định là M2 = 0.0072 gam loại Methamphetamine, do chưa đủ định lượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
- Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
- Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ1 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Bích X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thế H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; bị cáo Phạm Hoàng C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Bích X 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Bích X phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 09 (chín) năm 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 398/HSST ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo Lê Bích X phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 16 (mười sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương cho đến khi bị cáo Lê Bích X đi chấp hành án phạt tù.
- Áp dụng Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản (chưa đạt)” tại bản án số 370/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2023.
- Áp dụng Điểm o khoản 2 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng C1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2023.
- Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì thư được niêm phong ghi số 420/PC09 ngày 20/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B bên trong chứa 0,3051 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 nỏ thủy tinh (đã được niêm phong trong bì thư ghi số 420/PC09) và 01 ống hút nhựa; 01 túi da màu đỏ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Lê Bích X, Nguyễn Thế H, Phạm Hoàng C1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Nam |
Bản án số 177/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 177/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
