TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 177/2024/HS-PT
Ngày: 17-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam
Các Thẩm phán:
- 1/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
- 2/ Ông Ngô Ngọc Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 17/6/2024, tại Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 143/2024/TLPT-HS, ngày 10/05/2024 đối với bị cáo Phan Thị Tuyết V do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST, ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo:
Phan Thị Tuyết V, sinh năm 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: đường A, phường Phú Thuận, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: đường B, xã Bình Khánh, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn M (chết) và bà Phan Thị C; hoàn cảnh gia đình: có chồng là Nguyễn Văn X và 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Nguyễn Lê Khắc H, luật sư của công ty luật SG thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Phan Thị Tuyết V (Có mặt).
Bị hại kháng cáo: Bà Hồ Thị Tha L, sinh năm 1977
Thường trú: đường I, xã Bình Khánh, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1977
Thường trú: đường O, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình bà Hồ Thị Tha L và gia đình Phan Thị Tuyết V là hàng xóm, nhà đối diện nhau tại ấp A, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 06/9/2023, bà Hồ Thị Tha L vừa lấp nước đọng trước nhà và vừa nói “nước đọng vậy mà không hôi thối, nhà tôi nuôi con chó, phân chó ngoài đường tí xíu mà nói hôi thối và chửi hoài”. Nghe vậy, Phan Thị Tuyết V có to tiếng với bà Hồ Thị Tha L. Sau đó, hai bên có cự cãi, dẫn đến vật nhau té xuống đường. Nhưng được hàng xóm là ông Ngô Hồ Đ và chồng của Phan Thị Tuyết V là ông Nguyễn Văn X can ngăn. Ông Nguyễn Văn X kéo Phan Thị Tuyết V vào sân nhà. Sau đó, Phan Thị Tuyết V lấy 01 thanh sắt hộp vuông, đường kính 3 cm, dài 1,78 mét, một đầu có thanh sắt ngang 3x4 cm, dài 16 cm, sơn màu xanh có sẵn trong sân nhà chạy ra đường đâm thẳng vào mặt bà Hồ Thị Tha L gây thương tích. Sau đó cả hai tiếp tục xông vào đánh nhau. Khi được mọi người can ngăn thì Phan Thị Tuyết V bỏ đi vào nhà. Còn bà Hồ Thị Tha L điện thoại trình báo Công an xã Bình Khánh, sau đó được đưa đến Bệnh viện nhiệt đới – Thành phố Hồ Chí Minh điều trị vết thương. Hậu quả là bà Hồ Thị Tha L bị thương tích vùng má bên phải, khâu 03 mũi và trên sống mũi, khâu 01 mũi.
Ngày 21/9/2023, bà Hồ Thị Tha L có đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phan Thị Tuyết V.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể người sống số 784/KLTTCT-TTPY.2023 ngày 02/11/2023 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận thương tích bà Hồ Thị Tha L là 06%. Thương tích do vật có cạnh tác động gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Hồ Thị Tha L yêu cầu bị cáo Phan Thị Tuyết V bồi thường 180.000.000 đồng, gồm chi phí khám, điều trị thương tích, tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần và chi phí điều trị thẩm mỹ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HSST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Thị Tuyết V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Phan Thị Tuyết V 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Phan Thị Tuyết V phải bồi thường cho bị hại Hồ Thị Tha L số tiền 50.000.000 đồng. Thực hiện bồi thường ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của bị cáo, bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/3/2024, bị cáo Phan Thị Tuyết V kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và giảm mức bồi thường.
Bà Hồ Thị Tha L kháng cáo với nội dung yêu cầu không áp dụng dưới khung hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự, cụ thể:
- - Đề nghị không áp dụng cho bị cáo Tuyết V các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì cho rằng bị cáo V không tự nguyện sửa chữa, bồi thường thường thiệt hại hay khắc phục hậu quả gì cho bị hại, bị cáo cũng không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- - Đề nghị áp dụng cho bị cáo V tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng,” “có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm” theo điểm e, p khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Và không áp dụng cho bị cáo Điều 54 Bộ luật hình sự để xử bị cáo dưới khung hình phạt.
- - Về phần dân sự: bị hại cho rằng việc Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử từ chối yêu cầu bồi thường của bị hại vì bị hại không có hóa đơn, hợp đồng điều trị thẩm mỹ là không khách quan và trái pháp luật. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường chi phí điều trị thẩm mỹ cho bị hại gồm các khoản sau: Tiền mất thu nhập do nghỉ dưỡng sức và phục vụ cơ quan tố tụng và phù hợp với thu nhập thực tế của bị hại và chồng bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo bổ sung thêm yêu cầu xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội dung, phân tích tính chất vụ án đã đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Luật sư Nguyễn Lê Khắc H bào chữa cho bị cáo V trình bày: Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo vì hành vi của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn nhiều lần trước đó và phía bị hại cũng có hành vi cầm xẻng chỉa vào bị cáo. Bên cạnh đó, luật sư cũng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả 20 triệu đồng (đã nộp vào Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh). Xét bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn, con bị cáo đang trong thời gian thi tốt nghiệp lớp 12, từ đó, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm cùng các nội dung khác như nội dung kết luận giám định pháp y, biên bản thực nghiệm điều tra cùng cái tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét bị cáo Phan Thị Tuyết V đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là 01 thanh sắt hộp vuông, đường kính 3 cm, dài 1,78 mét, một đầu có thanh sắt ngắn 3x4cm, dài 16 cm, sơn màu xanh đâm vào mặt bà Hồ Thị Tha L gây thương tích cho bà với tỉ lệ được giám định là 6%. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Do vậy, Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Thị Tuyết V về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị cáo nằm trong thời hạn luật định là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo bổ sung xin hưởng án treo là phù hợp quy định tại Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét, bị cáo V chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị hại trong sinh hoạt hàng ngày mà xem thường pháp luật, đã sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công gây thương tích cho bị hại vào vùng mặt, gây ảnh hưởng thẩm mỹ. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc và áp dụng hình phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, cũng như tình tiết thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xử phạt bị cáo mức hình phạt 03 tháng tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, luật sư của bị cáo cung cấp tài liệu (Biên lai đóng tiền tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) thể hiện bị cáo tự nguyện đóng tiền bồi thường thiệt hại cho bị hại 20 triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng thêm cho bị cáo. Do đó, chấp nhận lời bào chữa của luật sư về vấn đề này.
Về yêu cầu của luật sư không áp dụng tình tiết “có tính chất côn đồ” đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong sinh hoạt, đời sống mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại nên được xem là tình tiết “có tính chất côn đồ”, do đó, không chấp nhận lời bào chữa của luật sư.
Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử sau khi xem xét đầy đủ hành vi phạm tội
của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm được xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên, xét mức hình phạt 03 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng, phù hợp với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và đã dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Đối với yêu cầu xin được hưởng án treo, như đã phân tích ở trên hành vi của bị cáo “có tính chất côn đồ” nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo.
Đối với yêu cầu kháng cáo giảm mức bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã gây thương tích cho bị hại, thương tích lại nằm ở vùng mặt, ảnh hưởng thẩm mỹ, đặc biệt khi bị hại là phụ nữ dễ gây tổn thương đến tâm lý, ảnh hưởng đến sinh hoạt và làm việc hàng ngày. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 180 triệu đồng, tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường 40 triệu đồng tiền tổn thất tinh thần cho bị hại và ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền điều trị thương tích là 10 triệu đồng, tổng cộng 50 triệu đồng, là thấp hơn yêu cầu của bị hại nhưng phù hợp với khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm mức bồi thường của bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy: đơn kháng cáo của bị hại nằm trong thời hạn luật định là hợp lệ.
Về nội dung đơn kháng cáo của bị hại, Hội đồng xét xử xét thấy:
Thứ nhất, bị hại kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ này là đúng quy định. Tuy nhiên, sau phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã nộp 20 triệu đồng để khắc phục hậu quả (nộp vào Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh) nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Thứ hai, đối với yêu cầu không áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thừa nhận và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đồng ý bồi thường cho bị hại, đồng thời trước phiên tòa phúc thẩm đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 20 triệu đồng. Như đã phân tích ở trên thể hiện bị cáo đã biết hối lỗi về hành vi của mình, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp, đúng với quy định của pháp luật.
Thứ ba, đối với yêu cầu áp dụng thêm cho bị cáo các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm e, p khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo chỉ sử dụng hung khí là thanh sắt đâm bị hại 01 lần, rồi sau đó cả hai xông vào đánh nhau. Sau khi được mọi người can ngăn thì bị cáo đã bỏ đi vào nhà. Xét thấy sau khi được can ngăn bị cáo bỏ về nhà, không bất chấp để tiếp tục tấn công bị hại nên không có cơ sở cho rằng bị cáo “cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng”. Đối với tình tiết “có hành động xảo quyệt
hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm”, được hiểu là trường hợp người phạm tội sử dụng những mánh khóe, cách thức tinh vi, thâm độc, tàn nhẫn, man rợ để thực hiện tội phạm. Việc người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi thực hiện tội phạm mới bị coi là tội phạm có tình tiết này. Hành vi phạm tội của bị cáo không thuộc trường hợp này.
Thứ tư, đối với yêu cầu không xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có căn cứ xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo dưới khung hình phạt.
Đối với yêu cầu bồi thường dân sự của bị hại: Xét, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 50 triệu đồng là phù hợp. Đối với yêu cầu về điều trị thẩm mỹ và tiền thu nhập bị mất, bị hại không có hóa đơn chứng từ thể hiện, việc điều trị thẩm mỹ cũng chưa phát sinh. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo về yêu cầu bồi thường dân sự của bị hại.
Từ những phân tích ở trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005026 ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bị cáo đã nộp 20 triệu đồng bồi thường thiệt hại cho bị hại. Hội đồng xét xử ghi nhận việc tự nguyện bồi thường số tiền này của bị cáo. Số tiền này được trừ vào số tiền 50 triệu đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường cho bị hại. Bị cáo còn phải tiếp tục thi hành số tiền còn lại là 30 triệu đồng.
[4] Các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Tuyết V, không chấp nhận kháng cáo của bị hại Hồ Thị Tha L. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo Phan Thị Tuyết V 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ghi nhận bị cáo đã nộp 20.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại (theo Biên lai số 0005026 ngày 14/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh). Số tiền này được trừ vào số tiền 50.000.000 đồng mà bị cáo có trách nhiệm thi hành.
Bị cáo còn phải tiếp tục thi hành số tiền còn lại là: 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
Thi hành án tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, trường hợp bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì bị cáo còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoài Nam |
Bản án số 177/2024/HS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 177/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm
