Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2024/DS-PT

Ngày 16-4-2024

V/v Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.

Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;

Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: Ông Bùi Quốc Việt- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 01 và ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 466/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc Tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 149/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 51/2024/QĐPT-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Đồng nguyên đơn: Bà Trần Thị Lệ H, sinh năm 1979; ông Võ Văn H1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (văn bản ủy quyền ngày 24-9-2022) (Có mặt)

  2. Đồng bị đơn: Bà Nguyễn Võ Tuyết N, sinh năm 1990; ông Phạm Bình M, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (Có mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phạm Hồng P, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. (văn bản ủy quyền ngày 11-10-2022) (Vắng mặt)

  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Đinh Thái H2- Luật sư của Công ty L1 –thuộc đoàn luật sư tỉnh T. (Có mặt)

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị T, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Số A Đường N, Khu phố G, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. (Vắng mặt)

  5. Người kháng cáo: bị đơn bà Nguyễn Võ Tuyết N, ông Phạm Bình M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Hoàng L trình bày:

Thông qua sự quen biết, bà Trần Thị Lệ H có cho bà Nguyễn Võ Tuyết N vay tiền nhiều lần. Toàn bộ quá trình giao dịch giữa bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 với bà Nguyễn Võ Tuyết N đều thông qua chuyển khoản và bà H, ông H1 chuyển tiền theo yêu cầu của bà N từ ngày 07-9-2021 cho đến ngày 27-12-2021. Cụ thể số tài khoản của bà Trần Thị Lệ H là 8501567 mở tại Ngân hàng A, số tài khoản của ông Võ Văn H1 16370927 mở tại ngân hàng A, số tài khoản của bà Nguyễn Võ Tuyết N 19136035032010 mở tại Ngân hàng T5. Các lần chuyển khoản cụ thể như sau:

Khoản 1/. Bà N vay 200.000.000 đồng cho Nguyễn Hoàng T1 (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 7-9-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho tài khoản Nguyễn Hoàng T1 số tài khoản 641704060370710 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của bà Nguyễn Võ Tuyết N số tiền 200.000.000 đồng.

  • - Bà H nhận: Ngày 8-9-2021 Nguyễn Hoàng T1 chuyển khoản về tài khoản ông Võ Văn H1 trả món này cho Trần Thị Lệ H tổng số tiền Nguyễn Hoàng T1 chuyển khoản về là 203.200.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi). Phần lãi 3.600.000đồng trong đó: Bà H nhận 1.200.000 đồng và chuyển khoản về tài khoản của bà N là 2.400.000 đồng.

Khoản 2/. Bà N vay 600.000.000 đồng cho Đặng Thị T2 (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 14-9-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho Đặng Thị T2 số tài khoản 641704060186906 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của Nguyễn Võ Tuyết N tổng cộng số tiền 600.000.000 đồng.

  • - Bà H nhận: Ngày 15-9-2021 Đặng Thị T2 chuyển khoản cho ông Võ Văn H1, trả món này cho Trần Thị Lệ H tổng số tiền Đặng Thị T2 chuyển khoản về 2 lệnh 409.000.000 đồng và 113.600.000 đồng. Tổng cộng chuyển khoản là 603.600.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi). Phần lãi 3.600.000 đồng trong đó bà H nhận 2.400.000 đồng và chuyển khoản cho bà Nguyễn Võ Tuyết N là 1.200.000 đồng.

Khoản 3/. Bà N vay 500.000.000 đồng cho Trần Thị Ngọc T3 (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 16-9-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho Trần Thị Ngọc T3 số tài khoản 641704060430303 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của Nguyễn Võ Tuyết N1 tổng cộng số tiền chuyển khoản 2 lệnh là 500.000.000 đồng.

  • - Bà H nhận: Ngày 17-9-2021 Nguyễn Võ Tuyết N đưa cho bà H bằng tiền mặt tổng cộng 503.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi). Phần lãi 3.000.000 đồng trong đó bà H lấy 2.000.000 đồng và chuyển khoản cho Nguyễn Võ Tuyết N là 1.000.000 đồng.

Khoản 4/. Bà N vay 353.305.000 đồng cho Phan Thị H3 (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 24-9-2021bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho Phan Thị H3 số tài khoản 641704060391214 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của Nguyễn Võ Tuyết N tổng cộng số tiền 353.305.000 đồng.

  • - Bà H nhận: Ngày 06-10-2021 Nguyễn Võ Tuyết N gửi quyết toán viết tay qua tin nhắn cho bà H số tiền lãi và gốc 365.673.000 đồng của Phan Thị H3 và bà N chỉ định cho Phan Thị H3 chuyển tiền về số tài khoản 16370927 của ông Võ Văn H1 (bao gồm cả gốc và lãi). Phần lãi 12.368.000 đồng trong đó bà H nhận 7.768.000 đồng và chuyển khoản cho Nguyễn Võ Tuyết N là 4.600.000 đồng.

Khoản 5/. Bà N vay 12.000.000 đồng cho cá nhân do có công việc đột xuất (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 06-10-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho Nguyễn Võ Tuyết N là 12.000.000 đồng theo tin nhắn của bà N.

  • - Bà H nhận: Chiều ngày 06-10-2021 từ tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N chuyển khoản cho bà H 12.000.000 đồng.

Khoản 6/. Bà N vay 100.000.000 đồng cho cá nhân do công việc đột xuất tối ngày 06-10-2021 (còn nợ chưa trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 06-10-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản cho Nguyễn Võ Tuyết N là 100.000.000 đồng theo tin nhắn của bà N.

Khoản 7/. Bà N vay 300.000.000 đồng cho Phan Thị T (đã trả tại khoản 9)

Ngày 09-10-2021 bà N nhắn tin nguyên văn “Em cần 300 triệu” và điện thoại cho bà H hỏi vay và yêu cầu bà H chuyển vào tài khoản Phan Thị Tuyết số tài khoản 050077115894 mở tại ngân hàng S và bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng theo tin nhắn vay của bà N.

Khoản 8/. Bà N vay 100.000.000 đồng cho Phan Thị T (đã trả tại khoản 9)

Ngày 12-10-2021, bà N có tin nhắn vay bà H 100.000.000 đồng và chỉ định bà H chuyển khoản về tài khoản Phan Thị Tuyết số tài khoản 104826849999 mở tại ngân hàng V1 và bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển số tiền 100.000.000 đồng theo tin nhắn vay của bà N.

Khoản 9/. Bà N chuyển trả 400.000.000 đồng tiền gốc của khoản 7 và khoản 8:

  • - Ngày 12-10-2021 bà N gửi tin nhắn chụp từ màn hình chuyển khoản từ tài khoản số 6661119999 nội dung chuyển khoản cho Võ Văn H1 tài khoản 16370927 ngân hàng A số tiền 203.600.000 đồng (trả 200.000.000 đồng tiền gốc và 3.600.000 đồng tiền lãi)

  • - Ngày 13-10-2021 N gửi tin nhắn chụp từ màn hình chuyển khoản từ tài khoản số 6661119999 nội dung chuyển khoản cho Võ Văn H1 tài khoản 16370927 ngân hàng A số tiền 203.000.000 đồng (trả 200.000.000 đồng tiền gốc và 3.000.000 đồng tiền lãi)

10/. Bà N vay 50.000.000 đồng cho Phan Thị T (còn nợ chưa trả)

Ngày 14-10-2021 bà N nhắn tin “Em lấy 50.000.000 đồng được không chị” và nhắn số tài khoản cho bà H chuyển khoản cho Phan Thị Tuyết số tài khoản 104826849999, bà H sử dụng số tài khoản của bà chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng theo tin nhắn vay của bà N.

11/. Bà N vay 250.000.000 đồng cho Phan Thị T (đã trả tại khoản 13)

Ngày 16-10-2021 bà N điện thoại vay cho Phan Thị T 250.000.000 đồng và bà H đã chuyển khoản số tiền 250.000.000 đồng vào tài khoản Phan Thị Tuyết số [...] theo yêu cầu hỏi vay của bà N.

12/. Bà N vay 150.000.000 đồng cho Phan Thị T (đã trả tại khoản 13)

Ngày 18-10-2021 N nhắn tin nguyên văn:

  • - Chị e lấy 150 triệu

  • - Chị chuyển khoản giúp em nhe

  • - Số tài khoản bà T luôn ạ

  • - Nhung chốt: Tổng thêm 150 triệu là 550 triệu e đang lấy của chị ạ

Ngày 18-10-2021 bà H đã chuyển khoản số tiền 150.000.000 đồng cho Phan Thị Tuyết số tài khoản 104826849999 theo yêu cầu hỏi vay của bà N.

Sau khi H chuyển khoản xong N có nhắn tin lúc 14 giờ 46 phút ngày 18-10-2021 với nội dung “Bữa giờ e lấy lắt nhắc nhiều lần sợ chị không rõ e viết rõ lại cho chị để theo dõi” và gửi kèm bản viết tay của N và chốt lại “đến 18/10 em (N) còn đang sử dụng của chị 550.000.000 đồng” và bà H trả lời “OK”

Tổng lại từ 6+7+8+9-10+11+12 bà Nguyễn Võ Tuyết N còn vay bà H là 550.000.000 đồng (có bảng viết tay gửi bà H và tin nhắn kèm theo).

Khoản 13/ Bà N chuyển trả 400.000.000 đồng tiền nợ gốc của khoản 11 và khoản 12.

Ngày 22-10-2021 ông Võ Văn H1 nhận được số tiền 409.600.000 đồng từ Phan Thị T chuyển khoản từ số tài khoản 104826849999 (biết được người chuyển khoản là từ màn hình tin nhắn bà N gửi) số tiền 409.600.000 đồng là bà N trả 400.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi bà N tự chốt với khách của bà N là 9.600.000 đồng. Sau đó, bà H hỏi phần bà H là bao nhiêu thì bà N nhắn tin là “9.600.000 đồng/3 = 3.200.000 đồng”, nhưng bà H chuyển cho bà N 3.500.000 đồng.

Vào ngày 23-10-2021 bà H nhắn tin cho bà N với nội dung “Hôm này em còn xử món nào lớn ko” thì bà N có nhắn tin “Dạ không chị - Em còn đang thu hồi món 150.000.000 đồng cho chị ạ - Mà họ nhắn trong tuần sau mới trả lại được ạ”.

Khoản 14/ Bà N vay 300.000.000 đồng cho Phan Thị T (còn nợ chưa trả)

Trong trưa ngày 25-10-2021 bà N nhắn tin “Chị chuyển khoản giúp e 300 vô tài khoản Tuyết giúp em nhé chị-Tài khoản viettin nhen chị” và chụp màn hình để nhắc lại cho H số tài khoản. Sau đó bà H chuyển tiền vào tài khoản Phan Thị Tuyết số tài khoản 104826849999 mở tại ngân hàng V1 số tiền là 300.000.000 đồng.

→ Chốt đến ngày 23-10-2021 bà N còn nợ Bà H 450.000.000 đồng.

Khoản 15/. Ngày 25-10-2021 bà N hỏi vay 800.000.000 đồng và chỉ định chuyển khoản vào tài khoản 641704060344968 tên tài khoản Phan Thị Tuyết . (còn nợ chưa trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 25-10-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản vào tài khoản Phan Thị Tuyết số tài khoản 641704060344968 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của Nguyễn Võ Tuyêt N1 số tiền 800.000.000 đồng, chuyển khoản 03 lệnh online.

  • - Bà H nhận: ngày 18-10-2021 bà N1 sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản vào tài khoản ông Võ Văn H1 02 lệnh tổng cộng số tiền 575.000.000 đồng và nhắn tin xác nhận: “Em chuyển khoản trả chị 560.000.000 đồng – Và lãi 15.000.000 đồng, 1100 nghĩa là lãi của phần 1.100.000.000 đồng (300.000.000 đồng và 800.000.000 đồng) và có chốt lại tin nhắn “ Đến hôm nay ah - Còn nợ gốc 540.000.000 đồng ạ”

Ngày 29-10-2021 bà N1 có gửi bảng chụp từ màn hình excel cho bà H “Bảng sao kê giao dịch trong tháng 10); Số tiền bà N1 còn nợ bà H là 690.000.000 đồng có chốt lại trên đó.

Khoản 16/. Ngày 30-10-2021 bà N1 gọi điện thoại vay H 600.000.000 đồng và nhắn tin tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N số tài khoản 19136035032010 mở tại Ngân hàng T5 để bà H chuyển khoản. (còn nợ chưa trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 30-10-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản vào tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N theo chỉ định tin nhắn của bà N số tiền 600.000.000 đồng chuyển khoản online 02 lệnh – Và bà N có xác nhận tin nhắn “Em nhận đủ ạ”.

  • - Bà H nhận: ngày 31-10-2021 bà N chuyển vào tài khoản của ông Võ Văn H1 212.780.000 đồng (trong đó 200.000.000 đồng tiền gốc và 12.780.000 đồng tiền lãi) và nhắn tin xác nhận: “Em trả bớt gốc-và lãi của phần 690 triệu tính đến hôm nay (ngày 31-10-2021)-Gốc 200.000.000 đồng và lãi 12.780.000 đồng” và có gửi màn hình file E cho bà H. Sau đó bà H chuyển khoản trả lại cho bà N phần tiền lãi 4.300.000 đồng.

Vào lúc 17 giờ 59 phút ngày 31-10-2021 bà N nhắn tin “Tổng gốc còn lại 490 triệu + 600 triệu =1.090.000.000 đồng (viết tắt 1090)”.

Khoản 17/. Lúc 15 giờ 34 phút ngày 01-11-2021 bà N nhắn tin hỏi vay cho cá nhân 50.000.000đồng. (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 01-11-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà chuyển khoản vào tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N số tiền 50.000.000 đồng.

  • - Bà H nhận: 12 giờ 19 phút ngày 03-11-2021 bà N chuyển khoản trả cho bà H 50.000.000 đồng và chuyển khoản lãi 500.000 đồng từ tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N trả cho bà H vào tài khoản Võ Văn H1 số tiền 50.500.000 đồng. Bà H có nhắn tin không lấy lãi bà N phần này và chuyển khoản trả lại cho bà N 500.000 đồng, tuy nhiên khi chuyển khoản bà H chuyển nhầm 50.000.000 đồng và sau đó chuyển khoản qua lại xong phần 50.000.000 đồng này.

Khoản 18/. Bà N vay 500.000.000 đồng cho Bùi Thị T4 (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 04-11-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Bùi Thị T4 số tài khoản 641704060205053 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của bà N số tiền 500.000.000 đồng.

  • - Bà H nhận: Ngày 08-11-2021 bà N chuyển khoản cho Võ Văn H1 3 lệnh tổng cộng 505.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc 500.000.000 đồng và tiền lãi 5.000.000 đồng)

Khoản 19/. Ngày 15-11-2021 bà N nhắn tin “chị e có món 200 (200.000.000 đồng) cần chị có ko ạ - Vậy chị chuyển khoản vào tài khoản techcom e luôn được ko ạ” (đã trả tại khoản 20)

  • - Bà H chuyển: Ngày 15-11-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng)

N nhắn “tầm 10-15 ngày e trả món này (200 triệu), còn món 1090 (nghĩa là 1.090.000.000 đồng) em vẫn đang dùng nhé chị” và bà N gửi kèm tin nhắn màn hình Excel xác nhận kèm theo)

Đến 15-11-2021 màn hình tin nhắn xác nhận tổng cộng N còn vay là 1.290.000.000 đồng (1.090.000.000 đồng + 200.000.000 đồng)

Khoản 20/. Ngày 18/11/2021 bà N vay số tiền 1.100.000.000 đồng cho cá nhân. (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 18-11-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N số tiền 1.100.000.000 đồng chuyển khoản 3 lệnh, bà N có nhắn tin xác nhận “Em nhận đủ hết ạ”.

  • - Ngày 19-11-2021 bà N nộp tiền mặt vào tài khoản 8501567 tên Trần Thị Lệ H số tiền 1.309.600.000 đồng (trong đó trả gốc 1.300.000.000 đồng và lãi 9.600.000 đồng). Trả tiền gốc cho khoản 19 và khoản 20.

  • - Lúc 20 giờ 12 phút ngày 19-11-2021 bà N chuyển khoản từ tài khoản của bà N vào tài khoản Võ Văn H1 56.000.000 đồng và nhắn tin “e chuyển khoản trả lãi khoản gốc 1.090.000.000 đồng”.

Tại thời điểm này ngày 19-11-2021 bà N còn vay Bà H: 1.090.000.000 đồng.

Khoản 21/. Vào lúc 14 giờ 03 phút ngày 22-11-2021 bà N nhắn tin “chị ơi-chị có thể cho e vay 30 (30.000.000 đồng) được ko ạ sáng mai e chuyển khoản lại tại tiền ở nhà em ko về lấy kịp-E cần xử lý gấp ạ”. (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 22-11-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N số tiền 30.000.000 đồng.

  • - Ngày 07-12-21 bà N chuyển khoản vào tài khoản ông Võ Văn H1 200.000.000 đồng và nhắn tin “e trả bớt gốc 200 triệu món 1090 (1.090.000.000 đồng)” và N chuyển khoản tiếp 1 lệnh nữa cho tài khoản 16370927 Võ Văn H1 49.000.000 đồng và nhắn cho H “Chốt cắt lãi tới hôm nay nhen chị (ngày 07-12-2021).

Tại thời điểm này ngày 07-12-2021 bà N còn vay bà H 890.000.000 đồng (1.090.000.000 đồng - 200.000.000 đồng chuyển khoản cho ông H1).

Khoản 22/. Ngày 14-12-2021 bà N gọi điện thoại vay bà H 500.000.000 đồng cho Nguyễn Thị Cẩm V và nhắn tin số tài khoản yêu cầu bà H chuyển khoản (đã trả)

  • - Bà H chuyển: Ngày 14-12-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Nguyễn Thị Cẩm V số 641704060168995 tại ngân hàng TMCP Q (Q) theo chỉ định tin nhắn của bà N số tiền 499.999.999 đồng do khác hệ thống nên không chuyển khoản tròn số 500.000.000 đồng được (thiếu 1 đồng).

  • - Bà H nhận: Ngày 15-12-2021 Nguyễn Thị Cẩm V chuyển tiền về tài khoản 16370927 của ông H1 trả khoản này cho bà H với tổng số tiền là 503.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc và lãi). Phần lãi 3.000.000 đồng trong đó bà H chuyển khoản về tài khoản Nguyễn Võ Tuyết N là 1.000.000 đồng.

Khoản 23/. Ngày 16-12-2021 bà N nhắn “Em lấy 1600 (1.600.000.000 đồng) và nhắn tin số tài khoản 709041703300001 tại ngân hàng N5 của Nguyễn Thị Kim N2 cho bà H chuyển khoản.

  • - Bà H chuyển: cụ thể như sau:

    + Ngày 16-12-2021 bà H sử dụng tài khoản của bà H chuyển vào tài khoản Nguyễn Thị Kim N2 số tài khoản 709041703300001 tại ngân hàng N5 theo chỉ định tin nhắn của bà N số tiền 1.100.000.000 đồng, chuyển 03 lệnh .

    + Ngày 16-12-2021 bà H sử dụng tài khoản của ông Võ Văn H1 chuyển vào tài khoản Nguyễn Thị Kim N2 số tài khoản 709041703300001 tại ngân hàng N5 theo chỉ định tin nhắn của bà N số tiền 499.999.000 đồng (làm tròn 500.000.000 đồng), do bị treo trên napas nên đến sáng 17-12-2021 ngân hàng A hoạch toán đã chuyển khoản Nguyễn Thị Kim N2 nhận được.

    + Để kịp thời cho đáo hạn nên ngày 16-12-2021 bà N đề nghị chuyển khoản cho bà N 500.000.000đồng, bà H đã chuyển khoản tiếp tục 02 lệnh tổng cộng 500.000.000 đồng từ tài khoản của bà H vào tài khoản của bà N (300.000.000 đồng và 200.000.000 đồng)

  • - Vào lúc 17 giờ 07 phút ngày 17-12-2021 bà N có nhắn tin xác nhận các khoản đang vay của H “Ghi tổng : 890 (890 triệu) +30 (30 triệu) +1600 (1.600.000.000 Kim Nhiều)+500 (500 triệu Kim nhiều Huyền chuyển khoản cho N, chuyển dư do bị treo lệnh ) – e quên cái khoản 30 nữa (30 triệu) bữa vay chị trưa thứ 7 xíu e chuyển khoản trả lại ạ -Là tổng các khoản e đang dùng của chị ạ”.

  • - Sáng ngày 18-12-2021 bà N chuyển khoản trả trước phần 30.000.000 đồng vay thứ 7 (chuyển khoản từ Nguyễn Võ Tuyết N vào tài khoản ông Võ Văn H1 30.000.000 đồng kèm tin nhắn “ Chuyển khoản món 30 e vay trưa thứ 7 ạ -Còn tiền lãi e sẽ tính hết vô món 2100 (món 1,6 tỷ và 500 triệu chuyển dư).

  • - Bà H nhận: Ngày 20-12-2021 bà N chuyển khoản vào tài khoản của ông H1 và bà H, chuyển khoản online nhiều lệnh tổng cộng 1.624.000.000 đồng (bao gồm tiền gốc 1.600.000.000 đồng và tiền lãi 24.000.000 đồng). Còn phần 500.000.000 đồng bà H chuyển khoản dư cho bà N nhận thì bà N vay tiếp tục của bà H.

- Lúc 9 giờ 18 phút ngày 27-12-2021 N nhắn tin xác nhận : “Chị món 890 (890 triệu) và 500 (500 triệu) kh hẹn thêm 10 ngày nhen chị-Con kh bệnh nặng bị nhiễm trùng đường ruột ...” Tổng cộng 2 món 1.390.000.000 đồng.

Tất cả các khoản đáo hạn ngân hàng của các khách hàng Nguyễn Hoàng T1, Đặng Thị T2, Trần Thị Ngọc T3, Phan Thị H3, Nguyễn Thị Kim N2, Bùi Thị T4, Nguyễn Thị Cẩm V thì giữa bà H, ông H1 đã tất toán với các khách hàng, đồng thời chuyển cho bà N khoản tiền lãi như đã thỏa thuận. Còn lại số tiền nợ 1.390.000.000 đồng thì bao gồm những khoản nợ cụ thể như sau: Khoản tiền 500.000.000 đồng bà N còn nợ bà H, ông H1 vào ngày 16-12-2021 (bà H chuyển khoản cho bà N 02 lệnh), các khoản tiền mà bà H, ông H1 chuyển khoản cho bà tên Phan Thị T vay theo chỉ định của bà N và tiền bà N vay nhưng chưa chuyển trả cho bà H tổng cộng là 890.000.000 đồng. Số tiền trên thì bà N chưa trả cho bà H, ông H1.

Vì vậy, nay bà H, ông H1 yêu cầu bà Nguyễn Võ Tuyết N, ông Phạm Bình M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà H, ông H1 số tiền gốc là 1.390.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm chín mươi triệu đồng) và tiền lãi theo quy định của pháp luật tính từ ngày 01-4-2022 đến khi xét xử vụ án.

Phía bị đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà N không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những căn cứ như sau: Bà N không vay tiền của nguyên đơn nên không có việc chốt nợ số tiền 890.000.000 đồng. Đối với số tiền 500.000.000 đồng bà N đã chuyển lại bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 vào ngày 20-12-2021.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, nguyên đơn giao nộp những tài liệu được in từ máy in ra giấy A4 mà nguyên đơn cho rằng có các nội dung vay tiền, file ghi âm (kèm bản dịch) và các uỷ nhiệm chi để làm căn cứ nhưng bà N không đồng ý vì lý do:

  • - Đối với đoạn ghi âm và tài liệu có tựa đề “BẢN DỊCH FILE GHI ÂM CUỘC THOẠI GIỮA BÀ TRẦN THỊ YẾN VỚI CHỊ NHUNG”: Bà N và người có tên Ú (trong nội dung bản dịch và file ghi âm) không quen biết nhau. Bản thân bà N chưa từng tiếp xúc, trao đổi, trò chuyện với người có tên Ú. Vì vậy, bà N không phải là một trong số những người nói chuyện trong đoạn ghi âm này. Mặt khác, người có tên Ú trong file ghi âm không có tư cách tham gia tố tụng trong vụ án; không phải người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và không phải người làm chứng, bởi vì: Theo các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp thì người có tên Ú không có quyền lợi và nghĩa vụ gì trong vụ án;

  • - Đối với tài liệu “XÁC NHẬN THÔNG TIN GIAO DỊCH” thể hiện “VÕ VĂN HỮU......... Ngày 16/12/2021 có thực hiện giao dịch chuyển khoản ACBO từ tài khoản 16370927 số tiền 499.999.999 VND cho người thụ hưởng NGUYEN THI KIM NHIEU, số tài khoản nhận 709041703300001” và 03 Uỷ nhiệm chi ngày 16/12/2021 có số 5918, 5919, 5920 thể hiện “Tên tài khoản....TRAN THI LE HUYEN.......Đơn vị thụ hưởng. .NGUYEN THI KIM NHIEU” thì không liên quan đến bà N.

  • - Đối với 66 tài liệu được in từ máy in ra giấy A4 mà nguyên đơn cho rằng có các nội dung vay thì bà N không biết nguyên đơn thu thập từ đâu, bản thân bà N chưa từng trao đổi hay liên lạc với ông Võ Văn H1 và bà Trần Thị Lệ H qua mạng xã hội zalo.

Tại cấp phúc thẩm bà N trực tiếp tham gia phiên tòa trình bày: xác định bà có liên quan số tiền bà Trần Thị Kim N3 vay 1.600.000.000 đồng của bà H, có 500.000.000 đồng bị treo chưa rút tiền được nên bà H đã chuyển khoản vào tài khoản của bà N 500.000.000 đồng. Số tiền này đã trả xong và bà N đã cung cấp những tài liệu, chứng cứ thể hiện nội dung tin nhắn qua zalo giữa bà N và bà H4, cung cấp bản chi tiết về 02 khoản tiền mà phía nguyên đơn khởi kiện, xác định không còn nợ bà H, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H. Việc người đại diện theo ủy quyền (ông Phạm Hồng P) trình bày bà N không biết, không hiểu việc vay tiền giữa bà H- bà N3 và không trao đổi liên lạc qua zalo với bà H là chưa chuẩn xác vì bà chưa cung cấp tài liệu cho người đại diện theo ủy quyền

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn – ông Phạm Bình M, trình bày như sau:

Ông M không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì những căn cứ như sau: Bản thân ông M không có liên quan đến vụ án mà bà H, ông H1 khởi kiện tại Toà án do ông M không biết bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 là ai. Ông M không có bất kỳ một giao dịch dân sự nào với bà H, ông H1. Quá trình giải quyết vụ án, tất cả những tài liệu mà bà Trần Thị Lệ H và ông Võ Văn H1 cung cấp đều không thể hiện bất kỳ thông tin nào liên quan đến ông M. Do đó, ông M khẳng định không có quan hệ vay tiền đối với ông H1, bà H. Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà H ông Hữu

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T trình bày:

Do cần tiền để làm ăn nên bà có vay tiền của bà Nguyễn Võ Tuyết N. Trong khoảng thời gian năm 2021 thì bà có vay của bà N nhiều lần, khi có nhu cầu vay tiền thì bà sẽ nói số tiền vay với bà N và thỏa thuận tiền lãi là 9%/tháng. Sau đó tài khoản số [...] của bà mở tại Ngân hàng thương mại cổ phần C1 nhận được tiền từ tài khoản của người mà bà không biết nhưng bà N có nói trước với bà là sẽ có người chuyển tiền vào tài khoản cho bà. Đến khi trả tiền gốc và lãi thì bà sẽ chuyển khoản cho bà N, có lúc thì bà N yêu cầu chuyển khoản lại cho số tài khoản đã chuyển tiền cho bà. Bà không nhớ chính xác những khoản tiền mà bà đã vay của bà N. Có khoản thì bà trả đủ tiền gốc, có khoản thì chưa trả hoặc trả không đủ. Đến khoảng năm 2022 thì bà mất khả năng trả nợ nên bà N có nói với bà là nhận nợ với bà Trần Thị Lệ H. Bà H đến gặp trực tiếp bà thì bà mới biết bà H là người chuyển tiền cho bà, tuy nhiên bà không đồng ý nhận nợ với bà H vì bà vay tiền của bà N, không phải vay tiền của bà H. Sau đó giữa bà và bà N có tổng kết các khoản nợ mà bà còn nợ thì bao gồm 890.000.000 đồng của những khoản nợ trước mà bà chưa trả đủ và khoản vay 500.000.000 đồng của khoản vay sau cùng. Khi đó bà N có đề nghị bà ký giấy nợ với số tiền trên đồng thời bà N tự tính thêm khoản tiền lãi, tổng cộng các khoản mà bà ký nhận nợ với bà N là khoảng 1.500.000.000 đồng, tuy nhiên bà N đề nghị bà để trống tại phần người cho vay vì lý do bà N nói là sẽ để cho người nhà đứng tên cho vay để khởi kiện. Giấy nợ sau khi bà ký thì bà N giữ. Bà xác định những khoản tiền mà bà nhận từ tài khoản của bà H, ông H1 là khoản tiền mà bà vay của bà N. Đối với việc bà Nguyễn Thị Kim N2 cho rằng trước đây có vay của bà số tiền 1.600.000.000 đồng thì bà xác định không biết cũng như không có cho bà N2 vay số tiền này..

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số: 149/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, đã xử:

Căn cứ vào các Điều 288, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 đối với bà Nguyễn Võ Tuyết N, ông Phạm Bình M về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc bà Nguyễn Võ Tuyết N và ông Phạm Bình M có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị Lệ H và ông Võ Văn H1 số tiền tổng cộng là 1.596.954.000 (Một tỷ năm trăm chín mươi sáu triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn) đồng. Trong đó bao gồm 1.390.000.000 (Một tỷ ba trăm chín mươi triệu) đồng tiền nợ gốc và 206.954.000 (Hai trăm lẻ sáu triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn) đồng tiền lãi.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

* Nội dung kháng cáo:

Ngày 11-10-2023 bị đơn bà Nguyễn Võ Tuyết N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm vì bà không có vay tiền của bà H và ông H1.

Cùng ngày 11-10-2023 bị đơn ông Phạm Bình M có đơn kháng cáo không đồng ý việc liên đới có trách nhiệm trả số tiền do bà H ông H1 khởi kiện vì ông hoàn toàn không biết và không có tham gia, số tiền 1.390.000.000 đồng mà bà H khởi kiện không phải là vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 01-4-2024:

Ông M giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày căn cứ pháp lý bảo vệ kháng cáo như sau: Ông không quen biết và không có vay tiền của bà H ông H1 nên không đồng ý liên đới chịu trách nhiệm.

Bà N giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày căn cứ pháp lý bảo vệ kháng cáo như sau: bà không phải là người vay tiền của bà H nên không có nghĩa vụ trả tiền cho bà H, ông H1 vì: bà công tác tại ngân hàng, từ trước đến nay bà có giới thiệu khách hàng vay cho bà H để đáo hạn ngân hàng, các khách hàng sau khi vay xong trả tiền cho bà H gốc và lãi, sau đó bà H có chuyển 01 phần tiền lãi nhận được cho bà. Đối với số tiền 890.000.000 đồng bà T đã có giấy xác nhận thừa nhận bà T là người sử dụng số tiền này, khoản tiền 500.000.000 đồng thì vào ngày 16-12-2021 bà có giới thiệu bà N2 vay của bà H nhiều khoản trong đó có khoản tiền 500.000.000 đồng bà H làm thủ tục chuyển cho bà N2 rồi nhưng do hệ thống ngân hàng có lỗi nên bị treo chưa rút tiền ra được vào ngày 16-12-2021, bà H đã xử lý xong với bà N2, hôm sau ngày 17-12-2021 bà N2 đã rút được số tiền trên và theo yêu cầu của bà H thì bà N2 đã giao số tiền trên cho bà T. Trong tổng số tiền bà N2 vay 1.600.000.000 đồng thì vào ngày 18-12-2021 bà đã chuyển khoản cho bà H 1.600.000.000 đồng và 24.000.000 đồng tiền lãi và bà H đã chuyển cho bà 8.000.000 đồng trích từ số tiền 24.000.000 đồng tiền lãi. Khoản tiền 500.000.000 đồng khởi kiện là khoản tiền bà N2 giao cho bà T không liên quan đến bà

Đ ngày 29-11-2021 bà H có nhắn tin cho bà có nội dung: bà H còn gửi bà 890.000.000 đồng đây là tiền mà bà T chưa trả, sau đó bà vẫn còn giới thiệu khách hàng khác (C, Q) với bà H để bà H cho vay. Sau đó, bà H và bà T có giải quyết về số tiền 1.390.000.000 đồng bằng cách cấn trừ đất, ngày 04-5-2022 bà H nhắn tin yêu cầu bà đến Văn phòng công chứng Trần Tất D để bà T thực hiện cấn trừ nợ bằng đất thông qua hợp đồng ủy quyền đất đai, Văn phòng Công chứng đã thực hiện soạn thảo văn bản thì bà T nói không có giấy đất bản chính nên việc ủy quyền đất đai cấn trừ nợ giữa bà H với bà T không thành. Bà H quay sang khởi kiện yêu cầu bà trả thì bà không đồng ý, do không có vay của bà H.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Tại cấp sơ thẩm bị đơn không đến Tòa nên không đối chất được; ban đầu bà N không thừa nhận có liên lạc qua Zalo với bà H, không vay tiền. Nhưng thực tế, theo yêu cầu của bà N nên bà H mới chuyển tiền cho người vay. Do đó bà N phải chịu trách nhiệm về số tiền 1.390.000.000 đồng cùng ông M vì là chồng của bà N.

Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 16-4-2024:

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Ông M không liên quan các khoản tiền vay, ông không biết về các khoản tiền này. Ông M làm cơ quan nhà nước có thu nhập ổn định nên không cần vay tiền, do đó ông không có trách nhiệm liên đới trả nợ.

Hồ sơ vụ án không thể hiện bà N là người vay tiền vì với các tài liệu chứng cứ bị đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 1/ Giấy xác nhận của bà T ngày 26-7-2022; 2/ Văn bản số 23 ngày 12-4-2024 của Văn phòng C2. Có căn cứ thể hiện bà N chỉ là giúp cho bà H cho người khác vay tiền. Bà N không có nhận số tiền 500.000.000 đồng bị treo trên hệ thống ngân hàng, bà H phải chịu trách nhiệm đối với số tiền bị treo; số tiền 890.000.000 đồng bà T vay không phải bà N vay. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà N, ông M.

Đại diện nguyên đơn ông L trình bày:

Đối với yêu cầu kháng cáo của ông M bà N nguyên đơn không đồng ý. Theo yêu cầu của bà N thì bà H mới chuyển tiền, cụ thể khi có người vay bà N nhắn tin yêu cầu bà H chuyển tiền, bà H chuyển cho bà N mượn với tiền lãi 2000 đồng/1 triệu/01 ngày, còn lại bà N tự tính với người vay. Sau này, phát sinh chuyện bà N thanh toán chưa đầy đủ. Sau khi bà H chốt nợ 1.390.000.000 đồng bà N có nhắn tin lại là “ok”. Sao kê ngân hàng đến ngày 30-3-2022 bà N vẫn chuyển tiền lãi cho bà H, bà H chuyển trả lại phần tiền lãi cho bà N.

Bà T khai bà T không biết bà H là ai, giấy xác nhận nợ của bà T chưa được làm rõ tại phiên tòa sơ thẩm. Nội dung tin nhắn giữa bà N và bà H thể hiện N đang nợ. Đối với số tiền 500.000.000 đồng treo bà N có nhắn tin cho bà H còn 500.000.000 đồng em nhận sử dụng luôn, bà N chốt nợ 1.590.000.000 đồng trả 20.000.000 đồng còn 1.390.000.000 đồng có xác nhận qua tin nhắn.

Bà N trình bày: đại diện nguyên đơn cho rằng bà chỉ định, bà hoàn toàn không đồng ý vì bà giới thiệu, bà H cho vay hay không là quyền của bà H. Giấy xác nhận của bà T thừa nhận 890.000.000 đồng của bà H tờ giấy này có vào ngày 26-7-2022 thời điểm này trước khi Tòa án Dương Minh C thụ lý vụ án.

Ông L trình bày: Bà H không biết là ai vay tiền, chỉ biết bà N. Đối với giấy xác nhận của bà T chưa được chứng thực, lời khai của bà T thì được Thẩm phán trực tiếp lấy lời khai nên có giá trị pháp lý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  • + Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

  • + Về nội dung: Xét kháng cáo của ông M, bà N: Giữa bà H và bà N có làm ăn với nhau, bà H nhiều lần chuyển khoản cho bà T, tổng cộng 07 lần là 1.950.000.000 đồng, chuyển cho bà N 02 lần là 700.000.000 đồng, tổng cộng chuyển khoản 2.650.000.000 đồng. Bà T chuyển khoản cho bà H (ông H1) 03 lần là 800.000.000 đồng, bà N chuyển khoản 03 lần là 960.000.000 đồng, tổng cộng chuyển khoản là 1.760.000.000 đồng. Còn lại 890.000.000 đồng, yêu cầu bà N trả. Tại Công văn số 23 ngày 12/4/2024 Văn phòng công chứng Trần Tất D, bà T ủy quyền cho bà H phần đất tại Huyện D, tỉnh Tây Ninh để cấn trừ nợ là có sơ sở chấp nhận. Đối với 500.000.000 đồng ngày 16/12/2021, bà H chuyển khoản cho bà N 500.000.000 đồng, sau đó bà N đã chuyển khoản 1.600.000.000 đồng và tiền lãi. Đối với 500.000.000 đồng bị treo, bà N2 giao cho bà T, cho nên không có căn cứ buộc bà N trả số tiền này cho bà H. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà N và ông M.

Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của BLTTDS. Sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được hỏi tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của các bên đương sự, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, cùng ngày 11-10-2023 bị đơn bà Nguyễn Võ Tuyết N và ông Phạm Bình M kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo phù hợp với trình tự, thủ tục quy định tại Điều 271; Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.1] Tại phiên tòa ngày 01-4-2024 bà H, ông H1 vắng mặt đã có người đại diện theo ủy quyền. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Xét về quan hệ pháp luật giải quyết, thấy rằng: Nguyên đơn bà H, ông H1 khởi kiện yêu cầu bà N, ông M, trả số tiền 1.390.000.000 đồng. Lý do: Cho bà N vay nhiều lần, từ ngày 07-9-2021 đến 27-12-2021, hiện tại còn nợ 1.390.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi. Chứng cứ cung cấp là toàn bộ các giao dịch vay tiền thông qua chuyển khoản. Phía bị đơn bà N ông M không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Các bên đương sự có tranh chấp. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp vay tài sản” theo Điều 463 của Bộ luật Dân sự là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của đồng bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Bà N là cán bộ Ngân hàng Q – Chi nhánh T6, có giao dịch với bà H với tư cách là giới thiệu, môi giới khách hàng để vay tiền của bà H để được hưởng tiền hoa hồng, bắt đầu giao dịch từ 07-9-2021 đến 07-12-2021 với nhiều khách hàng với 23 khoản tiền (theo nội dung khởi kiện), đã trả xong, hiện còn khoản tiền 1.390.000.000 đồng do N làm trung gian giới thiệu để bà H cho bà T vay, giao dịch giữa bà H, bà T và bà N tất cả đều thông qua chuyển khoản. Theo bản thống kê ngày 05-4-2024 các giao dịch giữa bà H, bà T, bà N thì chi tiết số tiền 1.390.000.000 đồng mà nguyên đơn khởi kiện gồm có 2 khoản:

Khoản thứ 1: Là 890.000.000 đồng xuất phát từ 08 lần bà H chuyển khoản cho vay tiền từ ngày 06-10-2021 đến 30-10-2021 là 2.550.000.000 đồng, với 6 lần chuyển khoản trả là 1.660.000.000 đồng, số tiền còn nợ là 890.000.000 đồng. Qua kiểm tra chi tiết chuyển khoản thể hiện bà T là người có nhu cầu vay tiền và là người nhận tiền vay, trực tiếp trả gốc và lãi cho bà H, sau khi nhận tiền lãi xong bà H trực tiếp chuyển khoản cho bà N theo thỏa thuận bà H 02 Nhung 01 theo tin nhắn của bà H vào ngày 04/9/2021 “tính 3000 hén. Em 1 chị 2”. Bà H đã nhận của bà T 06 lần trả gốc là 1.660.000.000 đồng, tiền lãi là 92.980.000 đồng và bà H đã 06 lần chuyển cho bà N số tiền 32.600.000 đồng tiền lãi đã nhận được theo thỏa thuận 2 -1 ( H – Nhung 1).

Khoản tiền thứ 2: số tiền 500.000.000 đồng là khoản tiền mà bà H chuyển cho khách hàng tên Nguyễn Thị Kim N2 vay tổng cộng 1.600.000.000 đồng theo nhu cầu vay của bà N2, bà H đã chuyển nhưng bị treo không rút được số tiền 500.000.000 đồng do lỗi hệ thống ngân hàng vào ngày 16-12-2021, sau dó bà H chuyển vào tài khoản của bà N để bà N chuyển cho bà N2, đã thực hiện xong, qua hôm sau ngày 17-12-2021 hết bị treo bà N2 đã rút được số tiền 500.000.000 đồng này không có giao lại cho bà N và đến 20/12/2021 bà N đã chuyển khoản cho bà H với số tiền 1.600.000.000 đồng và 24.000.000 đồng tiền lãi của bà N2, sau đó bà H đã chuyển khoản 8.000.000 đồng tiền lãi theo thỏa thuận cho bà N vào lúc 20 giờ 28 phút ngày 20-12-2021 từ tài khoản A1 của Võ Văn H1. Như vậy, khoản tiền 500.000.000 đồng phù hợp với lời khai của bà Phan Thị T (BL 385) và lời khai của bà N2.

[3.2] Với các chứng cứ trên thể hiện, toàn bộ số tiền bà H cho vay đang khởi kiện thì bà T là người thụ hưởng đã trực tiếp chuyển trả gốc và lãi cho bà H, sau khi nhận được tiền lãi từ bà T thì bà H mới chuyển tiền lãi cho bà N theo thỏa thuận, thực tế H đã nhận 92.980.000 đồng từ số tiền vay 2.550.000.000 đồng và bà H đã chuyển cho N 32.600.000 đồng tiền hoa hồng theo thỏa thuận. Có căn cứ xác định bà N là môi giới, giới thiệu khách hàng vay tiền cho bà H để hưởng lợi theo thỏa thuận 1-2 (N6, H 2) trên tổng số tiền lãi thu được.

[3.3] Sau khi bà T mất khả năng trả nợ, thì bà H bà T đã thỏa thuận cấn trừ phần đất, thửa đất số 564, tờ bản đồ 48, tại xã S, Huyện D. Tại phiên tòa bà H trình bày bà có đến Văn phòng Công chứng Trần Tất D và văn bản xác nhận của Trưởng Văn phòng C2 số 23/CV-VPCC ngày 12-4-2024 có nội dung: “Sau khi kiểm tra phần mềm soạn thảo của Văn phòng thì vào ngày 4/5/2022 có thể hiện một hợp đồng ủy quyền đối với thửa đất số 564, tờ bản đồ số 48 địa chỉ xã S huyện D của bà Phan Thị T ủy quyền cho bà Trần Thị Lệ H”. Sau đó không thực hiện vì không có giấy đất bản chính. Như vậy, thực tế bà H đã xác định nghĩa vụ trả nợ là bà Phan Thị T nên đã trực tiếp gặp và giải quyết bằng cách cấn trừ đất. Mặt khác, giữa bà H và bà N không có thỏa thuận nếu giới thiệu mà khách hàng không trả nợ được thì bà N phải chịu trách nhiệm. Do đó, không có căn cứ buộc bà N và ông M (chồng) trả số tiền khởi kiện 1.390.000.000 đồng và 206.954.000 đồng lãi. Bà H được quyền khởi kiện đối với bà T khi có yêu cầu.

[4] Về án phí:.

[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm: bà H, ông H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền 1.390.000.000 đồng và 206.954.000 đồng lãi do yêu cầu khởi kiện của ông H1 bà H không được chấp nhận.

[4.2] Án phí dân sự phúc thẩm: các đương sự kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

    - Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Võ Tuyết N và ông Phạm Bình M. Sửa bản án sơ thẩm số 149/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

    Căn cứ vào các Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 469 của Bộ luật Dân sự.

    Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 148; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

    - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Lệ H5, ông Võ Văn H1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Võ Tuyết N, ông Phạm Bình M trả số tiền 1.390.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm chín mươi triệu đồng) và 206.954.000 (Hai trăm lẻ sáu triệu chín trăm năm mươi bốn ngàn đồng) tiền lãi.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm 59.908.000 (Năm mươi chín triệu chín trăm lẻ tám ngàn) đồng. Khấu trừ vào số tiền 26.850.000 (Hai mươi sáu triệu tám trăm năm mươi ngàn) đồng mà bà H, ông H1 đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012634 ngày 05 tháng 10 năm 2022. Bà Trần Thị Lệ H, ông Võ Văn H1 còn phải nộp 33.058.000 (Ba mươi ba triệu không trăm năm mươi tám ngàn) đồng.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Võ Tuyết N và ông Phạm Bình M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn trả cho bà Nguyễn Võ Tuyết N 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014020 ngày 11-10-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

    Hoàn trả cho ông Phạm Bình M 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0014019 ngày 11-10-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao Hà Nội (Vụ 2);
  • - TAND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND huyện DMC;
  • - VKSND huyện DMC;
  • - CCTHADS huyện DMC;
  • - Phòng Kiểm tra nghiệp vụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu tập án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2024/DS-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 177/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger