Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/HSPT

Ngày: 10/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Huyền.
  • Các Thẩm phán: Bà Tô Thanh Tú, Bà Chử Phương Ngọc

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Phương Minh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hoan- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 650/2024/HSPT ngày 29/7/2024 do có kháng cáo của bị cáo Đinh Văn C đối với bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HSST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.

Bị cáo kháng cáo: Đinh Văn C, sinh năm 2000; HKTT: Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông: Đinh Văn T, sinh năm 1972; con bà: Bùi Thị M, sinh năm 1970; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Bùi Thị Lan H, sinh năm 2003 và 01 con sinh năm 2024;

Tiền án, tiền sự: Không có;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo C: Luật sư Đào Thị Lan A, luật sư Lê Quốc Đ – Công ty L3. (bà Lan A có mặt, ông Đ vắng mặt)

Bị cáo không kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn Q, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông: Nguyễn Văn C1, con bà: Đinh Thị Đ1; vợ, con: chưa có;
  2. Tiền án, tiền sự: Không. (có mặt tại phiên tòa).

    Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1.

  3. Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông: Nguyễn Văn L, con bà: Phạm Thị V; vợ, con: chưa có;
  4. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại không kháng cáo: Bà Bùi Thị Bích H1 (tên khác: Bùi Thị H1), sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H1: Luật sư Phạm Minh V1 – Công ty TNHH Đ3 (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Lê Đình Q1, sinh năm 1989; Địa chỉ: P CT7 Tòa X side, 208 đường T, phường M, quận H, Hà Nội. (vắng mặt)
  2. Chị Trần Thị Thu P, sinh năm 1996; Địa chỉ: P Tòa G, số B đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
  3. Chị Phạm Thu Quỳnh H2, sinh năm 1999; Địa chỉ: CH402 nhà 5 tầng khu tập thể B, ngõ C N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. (có mặt)
  4. Chị Lê Thùy D, sinh năm 2001; Địa chỉ: S ngõ G phố N, quận Đ, Hà Nội. (vắng mặt).

Điều tra viên, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm:

  1. Điều tra viên:
  2. - Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1978 – Đội phó Đ4 Công an huyện P; vắng mặt.

    - Ông Phạm Ngọc N, sinh năm 1989- Đội phó Đ4, kinh tế, ma túy Công an huyện P, vắng mặt

  3. Cán bộ điều tra: Ông Phan Văn D1 – Cán bộ điều tra Công an huyện P, vắng mặt.
  4. Kiểm sát viên: Ông Nguyễn Tiến L1, sinh năm 1989 – Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, có mặt.

Những người mà bị cáo Đinh Văn C đề nghị triệu tập thêm:

  1. Bà Bùi Thị M; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (có mặt)
  2. Anh Bùi Văn Q2, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. (có mặt)
  3. Anh Nguyễn Quang Q3, Địa chỉ: Số H L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên thì vụ án có nội dung như sau:

Công ty TNHH N2 (sau đây gọi tắt là Công ty N3) kinh doanh lĩnh vực chạy quảng cáo và bán hàng online. Cơ cấu tổ chức của công ty gồm 3 bộ phận: quản lý, telesale, vận đơn. Bên quản lý sẽ phụ trách lấy thông tin khách hàng có nhu cầu mua sản phẩm bao gồm thông tin và số điện thoại trên mạng internet, phân chia danh sách khách hàng cho các nhân viên Telesale thông qua bảng Google sheet. Bộ phận T2 có nhiệm vụ tư vấn bán hàng qua điện thoại cho khách hàng, có người quản lý là Giám đốc chi nhánh có nhiệm vụ tuyển nhân viên, quản lý, hướng dẫn nhân viên cách tư vấn và quản lý khách hàng của chi nhánh. Bộ phận vận đơn có nhiệm vụ đóng các đơn hàng và chuyển cho khách hàng qua dịch vụ vận chuyển Viettel Post.

Tháng 12/2021, Đinh Văn C vào làm việc tại Công ty N3. Tháng 02/2022, C giới thiệu thêm người quen cùng quê là Nguyễn Văn Q và Nguyễn Tuấn A1 vào làm việc. Tại Công ty N3, Q lấy tên là Lưu Hoàng A2, Tuấn A1 lấy tên là Nguyễn Phi L2 để tư vấn cho khách.

Từ tháng 04/2022, C ký hợp đồng góp vốn 60.000.000 đồng với Công ty N3 để được mở chi nhánh riêng, C là giám đốc chi nhánh, Q và Tuấn A1 làm ở chi nhánh do C làm giám đốc. Khi làm giám đốc chi nhánh, C là người hướng dẫn nhân viên của mình cách tư vấn cho khách hàng, quản lý nhân viên, quản lý khách hàng mà nhân viên mình tư vấn. Công ty N3 trả cho C bằng 03% tổng số tiền các đơn hàng mà nhân viên bán được trong tháng. Còn đối với các nhân viên Telesale trong đó có Q, Tuấn A1 ngoài lương cố định trong hợp đồng thì còn hưởng thêm % doanh số các đơn trong tháng tư vấn được cụ thể: tổng số tiền các đơn dưới 60 triệu thì được hưởng 01%, từ 60-79 triệu thì được hưởng 02%, từ 80-99 triệu được hưởng 03%, từ 100-149 triệu thì được hưởng 04%, từ 150-249 triệu thì được hưởng 05%, từ 250-349 triệu được hưởng 06%, trên 350 triệu thì được hưởng 08%, ngoài ra khi lên được các đơn nhiều tiền thì được thưởng nóng.

Tháng 6/2022, chị Bùi Thị Bích H1 xem trên mạng xã hội Facebook Lương y Giang Thị N1, Trung tâm Sắc Ngọc Đ2 bán thuốc trị nám. Chị H1 được nhân viên tư vấn nhiều lần mua nhiều loại sản phẩm ở đây với số tiền khoảng 60-70 triệu đồng. Bộ phận quản lý của Công ty N3 đã thu thập thông tin, số điện thoại của chị H1 rồi đưa vào danh sách khách hàng sau đó giao Telesale Nguyễn Văn Q và giám đốc chi nhánh Đ5 để liên hệ tư vấn bán hàng cho Công ty N3. Muốn bán được hàng cho Công ty N3 để hưởng lợi theo doanh số, C chỉ đạo Q liên hệ với chị H1, lấy tên là Lưu Hoàng A2 và nói với chị H1 về việc muốn lấy lại tiền đã mua sản phẩm bên Sắc Ngọc Đ2 thì sẽ giúp làm hồ sơ chi trả. Để làm thủ tục hồ sơ chi trả thì chị H1 phải nộp tiền thông qua hình thức xác nhận đơn hàng mới. Đơn hàng này chỉ nhằm mục đích để làm “tin” (làm thủ tục), yêu cầu không được mở ra, sau này xong hồ sơ, chị H1 nhận được tiền thì công ty sẽ thu lại. Để tránh bị Công ty N3 nghi ngờ, C chỉ đạo Q lên đơn và báo về Công ty N3 đóng số hàng tương ứng với số tiền chị H1 đồng ý nộp. Với thủ đoạn trên, trong thời gian còn là Giám đốc chi nhánh của Công ty N3, C đã chỉ đạo Q lừa đảo chiếm đoạt tài sản chị H1 03 lần, cụ thể:

Ngày 16/8/2022, C hướng dẫn Q sử dụng số điện thoại 0334.810.xxx do Công ty N3 trang bị gọi cho chị H1 lấy tên là Lưu Hoàng A2 tự xưng là em trai của Lương y Giang Thị N1 và là giám đốc trung tâm Sắc Ngọc Đ2. Q hỏi chị H1 về số tiền sử dụng thuốc bên Sắc Ngọc Đ2 và bảo với chị H1 nếu muốn lấy lại tiền thì Q sẽ giúp thông qua làm hồ sơ chi trả. Q yêu cầu chị H1 nộp 6.000.000 đồng và được chị H1 đồng ý. Sau đó, Quân báo về Công ty N3 là có đơn chị H1 ở P đặt đơn mỹ phẩm Serum gồm 5 hộp serum, 5 hộp Glucurcumin, bên vận đơn đóng bưu phẩm gửi cho chị H1 qua Viettel Post, mã bưu phẩm: 1693767232173. Các hộp này có giá niêm yết đều là 890.000 đồng/1 hộp nhưng tùy từng thời điểm giá có thể giảm xuống. Tiền đơn hàng này chuyển về công ty N3, còn C và Q được hưởng phần trăm theo số tiền 6.000.000 đồng mà chị H1 nộp.

Ngày 19/8/2022 C tiếp tục chỉ đạo Q gọi điện cho chị H1, lấy lí do đi nhờ các ban ngành để hoàn thiện hồ sơ nên yêu cầu chị H1 nộp 17.000.000 đồng thì chị H1 đồng ý. Quân báo về công ty N3 là chị H1 mua 20 hộp Steady Bone, giá niêm yết là 890.000 đồng/1 hộp nhưng tùy từng thời điểm giá có thể giảm xuống, bên vận đơn đóng đơn hàng gửi cho chị H1 qua Viettel Post, mã bưu phẩm: 1672421163643. Tiền đơn hàng này chuyển về công ty N3, còn C và Q được hưởng phần trăm theo số tiền 17.000.000 đồng mà chị H1 nộp.

Ngày 22/8/2022, C hướng dẫn Q tiếp tục gọi điện cho chị H1, vẫn lấy lí do cần kinh phí đi gặp các ban ngành xin để hoàn thiện hồ sơ, yêu cầu chị H1 phải đóng 10.000.000 đồng và được chị H1 đồng ý. Sau đó, Quân báo về công ty N3 là chị H1 mua 10 hộp M&D Mincy - D, giá niêm yết là 890.000 đồng/1 hộp, bên vận đơn đóng đơn hàng gửi cho chị H1 qua Viettel Post, mã bưu phẩm: 1692175017018. Tiền đơn hàng này chuyển về công ty N3, còn C và Q được hưởng phần trăm theo số tiền 10.000.000 đồng mà chị H1 nộp.

Cuối tháng 8/2022 Đinh Văn C mở công ty riêng lấy tên là Công ty TNHH D2. Nguyễn Văn Q và Nguyễn Tuấn A1 cũng nghỉ việc tại công ty N3 chuyển đến làm việc cho công ty của C. C thuê phòng 0505, tòa S219 chung cư O thuộc xã Đ, huyện G, TP Hà Nội làm trụ sở và địa điểm cho C, Q, Tuấn A1 sinh hoạt. C thỏa thuận trả lương cho Q và Tuấn A1 6.000.000 đồng/người/tháng, cộng thêm % tổng doanh thu cả tháng tư vấn được. Tổng doanh thu cả tháng dưới 100.000.000 đồng thì được hưởng 04%, từ 100 triệu đến dưới 200 triệu thì được hưởng 05%, từ mức đó doanh thu cứ tăng thêm 100 triệu thì cộng thêm 02%. Sau khi ra làm riêng, Đinh Văn C tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn Nguyễn Văn Q và Nguyễn Tuấn A1 gọi điện lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H1 thông qua làm hồ sơ chi trả cụ thể:

Tháng 9/2022, C giao cho Q tiếp tục lấy lí do cần tiền để đi liên hệ với các ban ngành, giúp đỡ chị H1 hoàn thiện hồ sơ chi trả, yêu cầu chị H1 nộp số tiền 20.000.000 đồng và được chị H1 đồng ý. Quân báo lại cho C để C chuẩn bị bưu phẩm, thuê shipper giao cho chị H1. Sau khi nhận được bưu phẩm, Chị H1 chuyển số tiền này qua người giao hàng do C thuê. C là người quản lý, sử dụng số tiền này.

Khoảng 1 tuần sau, sau khi lừa được đơn 20.000.000 đồng, C tiếp tục chỉ đạo Q gọi điện lên đơn với chị H1, yêu cầu chị H1 nộp số tiền 10.000.000 đồng để đi xin các ban ngành hoàn thiện hồ sơ và được chị H1 đồng ý. C đóng bưu phẩm, thuê shipper giao cho chị H1. Sau khi nhận được bưu phẩm, Chị H1 chuyển số tiền này qua người giao hàng do C thuê. C là người quản lý, sử dụng số tiền này.

Ngày 28/9/2022, C chỉ đạo Q gọi điện lên đơn với số tiền lớn hơn. Do Q nhiều lần lấy lý do hoàn thiện hồ sơ với chị H1 nhưng Q nói với C “đơn to em không lên được” và bảo C chỉ đạo, hướng dẫn Tuấn A1 lên đơn thì Tuấn A1 đồng ý. C hướng dẫn Q gọi điện cho chị H1 nói “lát nữa có anh Nguyễn Phi L2 ở bên ngân hàng gọi thì chị cứ tin tưởng”, sau đó hướng dẫn Nguyễn Tuấn A1 gọi điện cho chị H1 lấy tên là Nguyễn Phi L2, mạo danh là người của ngân hàng G để tư vấn giải quyết chi trả số tiền đã điều trị. Trước khi liên lạc, C viết nội dung ra tờ giấy để Tuấn A1 nói và ngồi bên cạnh trực tiếp hướng dẫn Tuấn A1 cách nói chuyện. C hướng dẫn Tuấn A1 nói với chị H1: “tôi là nhân viên ngân hàng tiếp nhận được thông tin hồ sơ của chị là người đang điều trị, đang bỏ ra số tiền để điều trị, chị muốn nhận lại được số tiền đó theo quy định của bên ngân hàng thì cần phải đóng tiền thuế”, yêu cầu chị H1 là phải nộp 30.500.000 đồng tiền thuế với hình thức xác nhận qua bưu phẩm đơn hàng. Sau khi được chị H1 đồng ý, C chuẩn bị bưu phẩm gồm 04 hộp hộp “Glucosamin” và gửi cho chị H1 qua Viettel P1, mã bưu phẩm: 1692536890718. Số tiền chị H1 nộp qua Vietel Post được chuyển về cho C.

Khoảng 1-2 ngày sau, C tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn Tuấn A1 tiếp tục lừa chị H1, Tuấn A1 gọi điện cho chị H1 giả danh là nhân viên ngân hàng và lấy tên giả là Nguyễn Phi L2 bảo là “hồ sơ của chị đã xong rồi giờ phải đóng thêm 60.000.000 đồng để hoàn thành hồ sơ nữa để được chi trả và được chị H1 đồng ý. Tại thời điểm này, sau 03 lần lừa đảo chiếm đoạt được của chị H1 số tiền 60.500.000 đồng nhưng Q và Tuấn A1 chưa được trả lương, chưa được nhận % nên Tuấn A1 và Q bàn nhau chiếm đoạt riêng số tiền 60.000.000 đồng mà không chia cho C. Tuấn A1 báo với C là chị H1 không đồng ý đối với đơn này. Sau đó, Tuấn A1 cùng Q lấy 04 hộp Glucosamin ở chỗ làm cho vào hộp bìa cát tông mang đến quán P2 địa chỉ C N, xã T, huyện G, TP Hà Nội để in đơn mã hàng 60.000.000 đồng với nội dung gồm: “Người gửi: Bác Hoàng A2, B Hà Nội Gửi; Người nhận: Trần Thị Bích H3; ĐT: 0965.029.xxx; ĐC: Shop Quần áo T, xã M, Huyện P, Hà Nội”. Tiếp theo, Tuấn A1 chở Q bằng xe máy Honda Wave, màu xanh đen, BKS: 18D1-685.14 của Q đi giao hàng cho chị H3. Trên đường đi, Q xuống uống nước tại quán nước ở gốc cây đa “Giời ơi” thuộc thôn P, xã P, huyện P, Hà Nội, còn Tuấn A1 đi xe máy một mình đến nhà văn hóa thôn B, xã M, huyện P, TP Hà Nội giao hàng cho chị H3 và nhận số tiền 60.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền xong, Tuấn A1 để trong cốp xe máy để Q tự lấy và cất giấu. Q cầm tiền và nhờ Lê Thanh T3 (sinh năm: 2002; HKTT: thôn N, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) chuyển số tiền 59.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng M1 của Nguyễn Văn Q, STK: 0020861688888, ngày 10/10/2022 T3 chuyển cho Quân số tiền trên. Số tiền này, sau đó được Q và Tuấn A1 chia đôi, mỗi người được hưởng 30.000.000 đồng.

Ngày 10/10/2022 do Tuấn A1 bảo với C là chị H3 không đồng ý đơn 60.000.000 đồng nên C bảo “vậy để tao vào làm việc”. Tuấn A1 và Q sợ C phát hiện nên Tuấn A1 bảo với C là “khách đang suy nghĩ” và hỏi C cách tư vấn tiếp. C hướng dẫn cho Tuấn A1 và Q phối hợp cùng tư vấn cho chị H3. Để chị H3 tin tưởng, Tuấn A1, Q gọi điện cho chị H3 bảo “bây giờ mọi cái chị cứ nghe theo Nguyễn Phi L2”. Tuấn A1 gọi điện bảo với chị H3 giờ xong xuôi hết hồ sơ rồi, giờ chỉ chi trả thôi, việc này bên ngân hàng cần chị H3 tạm ứng số tiền 120.000.000 đồng, nhưng chị H3 không đồng ý. Ngày 13/10/2022 C bảo với Tuấn A1 gọi lại cho chị H3 và bảo hạ xuống 100.000.000 đồng. Chị H3 trả lời đồng ý để nộp số tiền 100.000.000 đồng theo yêu cầu của nhóm C và hẹn 15 giờ 00 phút ngày 17/10/2022 giao hàng và nhận tiền tại nhà văn hóa thôn B, xã M, huyện P, thành phố Hà Nội. Tuấn A1 thông báo cho C là chị H3 đồng ý đơn 100.000.000 đồng. C chuẩn bị hàng và thuê Tạ Văn S đi giao hàng cho chị H3. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/10/2022, Tạ Văn S đến nơi đang giao bưu kiện cho chị H3, chưa kịp nhận tiền, thì chị H3 và nhân viên Công ty N3 giữ lại yêu cầu về trụ sở công an xã.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HSST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
  2. Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 174; khoản 2 Điều 51; điểm a, g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Đinh Văn C Xử phạt Đinh Văn C 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về tội danh, hình phạt với các bị cáo khác, về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 25/6/2024, bị cáo Đinh Văn C kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:

Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 3, Điều 174- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo kêu oan. Xét tài liệu điều tra, lời khai của các bị cáo khác, tài liệu, vật chứng có liên quan có đủ cơ sở kết luận bị cáo không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HSST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, cụ thể:

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
  2. Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 174; điểm b, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm a, g, khoản 1, Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Đinh Văn C từ 7 năm đến 7 năm 3 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đề nghị HĐXX xem xét đánh giá lại toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND huyện Phú Xuyên. Về hồ sơ vụ án, đã có việc sửa chữa bút lục, xóa, chèn bút lục, bị tẩy xóa thành các bút lục khác: 244 thành 241, 2243 thành số khác tôi nhìn không rõ là 245 hay 243. Biên bản phiên tòa sơ thẩm ghi thiếu ý kiến của người bào chữa. Đề nghị xem xét lại biên bản phiên tòa. Đề nghị xem xét lại hành vi của C, 3 hành vi khi làm tại công ty N3. Tháng 8/2022 C được giao làm ở chi nhánh, trước đó C làm nhân viên, chị P điều hành quyết định hoạt động của công ty và các chi nhánh. Khi vào công ty, C, Q, Tuấn A1 được học thuộc bài tư vấn, tự nhận giả danh là người các công ty trị nám, xương khớp,... để gọi điện hỏi thăm, tư vấn. C khai không chỉ đạo. Hồ sơ vụ án không có tài liệu nào về việc C chỉ đạo, chỉ căn cứ vào lời khai của các bị cáo khác. Q và Tuấn A1 làm theo sự chỉ đạo từ chi nhánh của chị X và tiếp tục thực hiện tại chi nhánh Đ5. Toàn bộ tiền 3 đơn từ công ty N3 chuyền về tài khoản công ty N3, C, Q, Tuấn A1 không nhận toàn bộ tiền 3 đơn này. Các đơn hàng từ công ty D2 đề nghị xem xét hành vi 60 triệu đồng mà Tuấn A1, Q không báo lại cho C, tự chia nhau tiền này, C không biết. Hành vi 100 triệu sau cùng, chị H3 cùng công ty N3 kết hợp lừa lại C, Q, Tuấn A1. Đề nghị xem xét ý kiến của C, lời khai mâu thuẫn của Q, đổ lỗi cho C tại bút lục 313-349. Q khẳng định lấy tên Lưu Hoàng A3 từ ngày ở công ty N3, sang công ty D2 lấy danh sách do công ty N3 cung cấp và có hành vi vi phạm pháp luật với chị H3. VKS đề nghị cho bị cáo áp dụng điểm b, khoản 1, điều 51- Bộ luật hình sự, tôi đồng ý. Để làm rõ sự thật khách quan vụ án, đề nghị Hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Hiện tại công ty N3 chị P đã bị khởi tố. Bị cáo C nếu được điều tra lại, hành vi của C đến đâu, C nhận tội đến đó.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H3 có ý kiến:

Bản án hình sự sơ thẩm tuyên bị cáo Đinh Văn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng người đúng tội. Bị cáo luôn đóng vai trò cầm đầu. Hành vi của các bị cáo Q, Tuấn A1 đều thực hiện trong thời gian C làm giám đốc chi nhánh N4. Theo lời khai của các bị cáo, giám đốc chi nhánh được hưởng lợi trên số tiền nhân viên bán được. Với vai trò giám đốc chi nhánh C hướng dẫn Q, Tuấn A1 thực hiện hành vi lừa đảo. C biết và buộc phải biết các bị cáo Q, Tuấn A1 lừa đảo chiến đoạt tài sản. Bị cáo C khai không biết việc làm của nhân viên. C khai quản lý đơn hàng qua google sheet, nhân viên báo cáo cho công ty N3 là không đúng vai trò giám đốc chi nhánh. Bản án sơ thẩm nhận định C chỉ đạo Tuấn A1, Q là hoàn toàn phù hợp. Khi C mở công ty D2, C là người quản lý, cung cấp danh sách khách hàng, hướng dẫn nhân viên dưới quyền, bị cáo hưởng phần lớn số tiền bị cáo khác lừa đảo bị hại. C nhận cung cấp số điện thoại, giao các bị cáo khác tư vấn cho bà H3. Theo hồ sơ bị cáo trực tiếp đóng gói, gửi hàng cho bị hại. Sau này bị cáo thay đổi lời khai chỉ bán hàng, gửi hàng đi là không đúng vai trò giám đốc công ty D2. Về điều kiện làm việc, trụ sở công ty D2 chỉ 20m2, có 1 bàn ở giữa, C và các bị cáo đều ngồi bàn này. Khi các bị cáo gọi điện lừa đảo bà H3, các bị cáo đều ở đó, đương nhiên C ở đó biết, nghe các bị cáo gọi điện lừa đảo. Về nhận thức: C biết hành vi của mình là lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tại lời khai của bị cáo tại bút lục 240 bị cáo thừa nhận biết giá trị sản phẩm ít hơn nhiều, biết hành vi giả danh là sai, vi phạm pháp luật nên đã liên hệ công ty N3 để bồi thường số tiền lừa đảo cho bà H3. Sự nhận thức về hành vi lừa đảo thể hiện việc bị cáo nhắn tin cho giám đốc công ty N3. Các file ghi hình buổi làm việc giữa C, mẹ, cậu của C. Thái độ C luôn thể hiện sự ăn năn, C nhắn tin xin lỗi, mong cơ hội sửa sai, sẵn sàng khắc phục thiệt hại do hành vi gây ra không có sự đe dọa, ép buộc nào. Nội dung này thể hiện bị cáo biết rõ hành vi của mình. Tại phiên tòa bị cáo kêu oan là mâu thuẫn những tài liệu thể hiện trong hồ sơ. Trong suốt quá trình thực hiện hành vi, video, tin nhắn đều do bị cáo chủ động nhắn trước. Khi đến làm việc với công ty N3 bị cáo tự thừa nhận hành vi, không bị đe dọa, ép buộc. Bị cáo khai bị cưỡng bức, ép buộc, không thừa nhận hành vi gây thiệt hại là mâu thuẫn với chứng cứ lời khai ban đầu của bị cáo, chứng cứ thực tế. Bản án sơ thẩm kết luận bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đủ căn cứ, đúng người đúng tội. Các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ áp dụng với bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H3 đồng ý với bản án sơ thẩm. Về trách nhiệm hình sự: do các bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên không có ý kiến gì. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trong phần đối đáp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội có ý kiến: Hoàn toàn đồng ý với luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H3, luật sư phát biểu quan điểm bám sát hồ sơ vụ án. Bị cáo 8 lần thực hiện hành vi phạm tội xuất phát từ việc đưa ra thông tin không đúng để chị H3 tin tưởng, chuyển tiền cho các bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản. Lần thứ 8 chị H3 chuyển 100 triệu đồng thì bắt được ship hàng. Lời khai của các bị cáo đã rõ, chứng cứ thu thập rõ ràng. Trong vụ án, bị cáo C quanh co, không nhận thức được hành vi của mình. Mức hình phạt đối với bị cáo, dù bị cáo không tự nguyện nhưng hậu quả cho bị hại đã được khắc phục nên VKS đề nghị giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo. Hành vi của bị cáo đã rõ, không có lý do gì để hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đinh Văn C cho rằng quá trình điều tra bị cáo bị bức cung, ép cung, tuy nhiên bị cáo không đưa ra được tài liệu nào để chứng minh bị cáo bị bức cung, ép cung nên không có căn cứ để xác định bị cáo bị bức cung, ép cung

Người bào chữa cho bị cáo thì cho rằng hồ sơ vụ án có việc tẩy xóa bút lục, cụ thể như bút lục 244 thành 241, 2243 thành số khác không rõ là 245 hay 243, tuy nhiên qua kiểm tra các bút lục trong hồ sơ thì không thể hiện nội dung như luật sư nêu.

Như vậy về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo kêu oan cho rằng bị cáo không hướng dẫn các bị cáo Q, Tuấn A1 gian dối để chiếm đoạt tài sản của bà H3. Tuy nhiên căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của các bị cáo Q, Tuấn A1 có đủ cơ sở để khẳng định:

Trong thời gian từ tháng 8/2022 đến 17/10/2022, Đinh Văn C đã chỉ đạo, bàn bạc với Nguyễn Văn Q, Nguyễn Tuấn A1 gọi điện thoại cho chị H3 giả là em trai của Lương y Giang Thị N1 là Giám đốc trung tâm Sắc Ngọc Đ2, nhân viên ngân hàng hướng dẫn chị Bùi Thị Bích H1 làm các thủ tục làm hồ sơ chi trả tiền để 8 lần chiếm đoạt tài sản của chị H1. Cụ thể:

Khi C còn làm tại Công ty N3: Vào các ngày 16/8/2022, 19/8/2022, 22/8/2022 với thủ đoạn như nêu trên, C và Q đã chiếm đoạt của chị H1 số tiền lần lượt là: 6 triệu đồng, 17 triệu đồng, 10 triệu đồng, tổng cộng là 33 triệu đồng,

Khi C mở công ty riêng lấy tên là Công ty TNHH D2: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022, đến 17/10/2022, với thủ đoạn như trên, C đã chỉ đạo Q 5 lần chiếm đoạt của chị H1 số tiền lần lượt là 20 triệu đồng, 10 triệu đồng, 30.500.000 đồng, 60 triệu đồng, 100 triệu đồng, tổng là 220.500.000 đồng, trong đó có 3 lần có C chỉ đạo Q và Tuấn A1 tham gia chiếm đoạt của chị H1 số tiền là 30.500.000 đồng, 60 triệu đồng, 100 triệu đồng, tổng là 190.500.000 đồng.

Như vậy, Đinh Văn C, Nguyễn Văn Q đã 08 lần có thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị Bùi Thị Bích H1 với tổng số tiền là 253.500.000 đồng; Nguyễn Tuấn A1 đã cùng với Đinh Văn C, Nguyễn Văn Q có thủ đoạn gian dối để 03 lần chiếm đoạt tài sản của chị Bùi Thị Bích H1 với tổng số tiền là 190.500.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo C cho rằng bị cáo không hướng dẫn Q và Tuấn A1 tư vấn gian dối cho khách hàng và cũng không biết việc Q và Tuấn A1 tư vấn gian dối cho khách hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo Q và Tuấn A1 đều khai thực hiện theo sự chỉ đạo của C giả mạo là người của Trung tâm Sắc Ngọc Đ2, giả mạo là nhân viên ngân hàng tư vấn cho chị H1 từ đó chiếm đoạt tiền của chị H1. Hơn nữa, các bị cáo C, Q và Tuấn A1 đều ngồi cũng làm việc tại một phòng chỉ rộng khoảng 20m², có 1 bàn ở giữa, C và các bị cáo đều ngồi bàn này. Khi các bị cáo Q và Tuấn A1 gọi điện tư vấn cho chị H1, C ngồi ở đó, đương nhiên C ở đó biết, nghe các bị cáo gọi điện gian dối với chị H1 để chiếm đoạt tài sản của chị H1. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đinh Văn C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm a, khoản 3, Điều 174- Bộ luật hình sự là có căn cứ. Bị cáo không oan.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo như: Đinh Văn C giữ vai trò người đứng đầu, thực hiện tội phạm tích cực, bị cáo phạm tội nhiều lần, có nhân thân tốt, chưa tiền sự, tiền án, tuy hiện nay cho rằng không tự nguyện nhưng cũng đã bồi thường phần lớn số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo từ đó xử phạt bị cáo mức án 08 năm tù là phù hợp. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên cần giữ nguyên án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356- Bộ luật tố tụng hình sự: Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số số 44/2024/HSST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, cụ thể:
    1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn C phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
    2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 3, Điều 174; khoản 2, Điều 51; điểm a, g, khoản 1, Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, Xử phạt Đinh Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
  2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Đinh Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - CA, VKSND, Chi cục THADS, TAND huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội.
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu HS, VP.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2025/HSPT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 177/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger