|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 177/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15-4-2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hà Thiên Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
- Ông Vũ Ngọc Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Cao Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 414/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 46/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ D, sinh năm: 1961
Địa chỉ thường trú: Số C đường N, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Từ Chí C, sinh năm: 1960
Địa chỉ thường trú: Số C đường N, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 22/4/2024, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ D trình bày: Bà và ông Từ Chí C tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn năm 1980 tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận kết hôn số 24, quyển số 1, cấp ngày 29/5/1980.
Thời gian đầu bà D và ông Chung C sống hạnh phúc, sau đó C nhiều lần ngoại tình, dẫn đến vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải. Ông C nhiều lần chửi mắng, nhục mạ bà D và gia đình bà, ông C không có trách nhiệm với gia đình, không hỗ trợ bà nuôi con và chăm sóc con. Bà D và ông C đã ly thân từ năm 2015 đến nay, từ tháng 10/2024 ông C đã bỏ nhà đi, bà D và các con không liên hệ được với ông C. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà D khai, giữa bà và ông Chung C sống có ba người con chung tên Từ Đức T, sinh ngày 03/01/1983, Từ Tiến Đ, sinh ngày 03/12/1991 và Từ Mỹ N, sinh ngày 20/7/1993; các con chung đã thành niên.
Về tài sản chung: Bà D khai không có.
Về nợ chung: Bà D khai không có.
Ngày 04/3/2025, bà D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cho ông C nhưng ông C vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật, đầy đủ.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa bà D và ông C là “Tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn ông Từ Chí C có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông C.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
- Xét yêu cầu xin ly hôn:
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình. Tuy nhiên, giữa bà D và ông C không có sự tôn trọng, yêu thương, quan tâm, chăm sóc, không có sự giúp đỡ nhau, bà D và ông C cũng đã sống ly thân, như vậy, cho thấy mục đích hôn nhân của bà D và ông C không đạt được. Hơn nữa, ông C đã được Tòa án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng vẫn không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến nào gửi cho Tòa án về việc bà D xin ly hôn. Như vậy, ông C không còn quan tâm, thiết tha đến cuộc sống hôn nhân gia đình, tình cảm vợ chồng giữa bà D và ông C không còn khả năng đoàn tụ nên yêu cầu xin ly hôn của bà D là có căn cứ.
- Về con chung: Bà D và ông C có 03 người con chung tên Từ Đức T, sinh ngày 03/01/1983, Từ Tiến Đ, sinh ngày 03/12/1991 và Từ Mỹ N, sinh ngày 20/7/1993; các con chung đã thành niên.
- Về tài sản chung: Bà D khai không có.
- Về nợ chung: Bà D khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà D phải chịu án phí về Hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Mỹ D
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Mỹ D được ly hôn với ông Từ Chí C.
- Về con chung: Bà D và ông C có 03 con chung tên Từ Đức T, sinh ngày 03/01/1983, Từ Tiến Đ, sinh ngày 03/12/1991 và Từ Mỹ N, sinh ngày 20/7/1993; các con chung đã thành niên.
- Về tài sản chung: Bà D khai không có.
- Về nợ chung: Bà D khai không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Bà Trần Thị Mỹ D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Trần Thị Mỹ D thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Hà Thiên Tâm |
Bản án số 177/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 177/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu, cho ly hôn
