Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3-HUẾ

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13/10/2025

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Quang và ông Mai Văn Xuân.

-Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương, Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Phú, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố H (số E đường Đ, phường H, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 21/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/3/2025; Về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QÐST- HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2025/QÐST- HNGĐ ngày 25 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980; địa chỉ: A, xã B, thị xã H, thành phố H (nay là xã B, thành phố H), có mặt.

Bị đơn: Ông Hồ Thanh T, sinh năm 1972; địa chỉ: A, xã B, thị xã H, thành phố H (nay là xã B, thành phố H), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy H đều trình bày:

Bà và ông Hồ Thanh T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là xã B, thành phố H) vào ngày 09/4/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau ngay từ đầu đã không có hạnh phúc nên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông T suốt ngày nhậu nhẹt về nhà đánh đập vợ con, làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2006 cho đến nay. Tuy nhiên vì con nên bà vẫn liên lạc nhưng từ năm 2023 cho đến nay thì bà cắt đứt liên lạc với ông T, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện xin ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà H khai bà và ông T có 02 con chung là Hồ Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 05/4/2004 và Hồ Nguyễn Thanh N, sinh ngày 13/4/2006. Do các con đã thành niên nên bà H không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Hồ Thanh T không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không đến Toà án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải. Tại phiên toà, ông T vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Tại bản tự khai ngày 09 tháng 9 năm 2025, ông Nguyễn Thanh H2 (là em trai của bà H) trình bày: Bà H và ông T kết hôn với nhau vào năm 2005. Quá trình chung sống vợ chồng bà H ông T có xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống gần 10 năm nay, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay bà H xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông T. Hiện nay bà T vẫn đang sinh sống tại Thôn A, xã B, thành phố H.

Tại biên bản xác minh ngày 22/8/2025 tại Công an xã B, thành phố H thể hiện: “...ông Hồ Thanh T hiện đang sinh sống tại Thôn A, xã B, thành phố H”.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin ly hôn ông T.

Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố H có ý kiến:

[1] Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

  • - Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Quyền và nghĩa vụ của bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử chưa thực hiện đúng các quy định tại khoản 16 Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn ông Hồ Thanh T.

Về con chung: Do các con của ông T bà H đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thúy H khởi kiện ly hôn với ông Hồ Thanh T. Ông T có nơi cư trú tại: A, xã B, thị xã H, thành phố H (nay là xã B, thành phố H). Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3-Huế, thành phố H) thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15.

Ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Thanh T và bà Nguyễn Thị Thúy H có quá trình chung sống với nhau, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H (nay là xã B, thành phố H) vào ngày 09/4/2005 (quyển số 01, năm 2005). Như vậy, hôn nhân giữa ông T và bà H là hợp pháp.

[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy H, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình bà H và ông T chung sống với nhau ngay từ đầu đã không có hạnh phúc, nên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông T hay rượu chè về nhà đánh đập vợ con, vợ chồng không còn chung sống từ năm 2016 cho đến nay là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án đã nhiều lần tống đạt giấy triệu tập, nhưng ông T không đến Toà án để làm việc, hòa giải và không tham gia xét xử tại phiên tòa, không liên lạc với bà H là có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí mong muốn để hòa giải đoàn tụ gia đình, thể hiện việc không quan tâm đến gia đình và không còn tình nghĩa vợ chồng.

Xét thấy hôn nhân giữa ông T và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận đơn của bà H, cho bà H được ly hôn ông T.

[2.3] Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là Hồ Nguyễn Thanh H1, sinh ngày 05/4/2004 và Hồ Nguyễn Thanh N, sinh ngày 13/4/2006. Hiện các con đều đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15.

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thúy H đối với ông Hồ Thanh T về việc “Ly hôn”.
  2. Bà Nguyễn Thị Thúy H được ly hôn ông Hồ Thanh T.

  3. Về con chung: Các con chung của ông T và bà H đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu số 1777 ngày 06/3/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3-Huế). Bà H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND khu vực 3-Huế;
  • - Chi cục Thi hành án khu vực 3-Huế;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Bình Điền, thành phố Huế.
  • - Lưu hồ sơ, lưu dán.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2025/HNGĐ-ST ngày 13/10/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn

  • Số bản án: 177/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HUẾ, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Trung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger