Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/DS-PT

Ngày: 06-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Đinh Thị Ngọc Yến

Các Thẩm phán:

Ông Trần Tấn Quốc

Bà Hoàng Thị Thúy Lành

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 28 tháng 02 và ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 654/2024/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 707/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Số B ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số A ấp N, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
    • 3.2. Ông Nguyễn Lê Công Tuấn P1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Thành N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P trình bày:

    Ngày 05/4/2024, ông Nguyễn Thành N có vay của ông Nguyễn Thanh P số tiền 2.700.000.000 đồng, mục đích vay là để ông N nhận chuyển nhượng 02 thửa đất số 440, 442 tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại Phường E, thành phố T, tỉnh Long An. Thời hạn vay là 10 ngày kể từ ngày vay, không có thỏa thuận lãi suất và hai bên có lập giấy mượn tiền ngày 05/4/2024. Sau khi ký giấy vay nợ, ông P đã chuyển khoản cho ông N số tiền 2.700.000.000 đồng vào tài khoản của ông N số 8861118118 tại Ngân hàng B. Đến hạn trả nợ, ông P nhiều lần yêu cầu ông N trả lại số tiền 2.700.000.000 đồng nhưng ông N vẫn chưa trả. Nay ông P yêu cầu ông N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông P số tiền nợ vay là 2.700.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

  2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Thành N trình bày:

    Ngày 05/4/2024, ông có vay của ông Nguyễn Thành P2 số tiền 2.700.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 ngày kể từ ngày 05/4/2024, mục đích vay là mua 02 thửa đất như ông P2 trình bày và cam kết khi vay ngân hàng sẽ hoàn trả lại số tiền cho ông P2 nhưng khi làm hồ sơ vay ngân hàng B thì giá trị khoản tiền vay thấp hơn nhu cầu vay. Sau đó, ông tiếp tục gửi hồ sơ vay đến các ngân hàng khác để có được khoản vay cao hơn. Do thời gian vay ngân hàng kéo dài nên vào ngày 24/4/2024, ông P2 yêu cầu ông trả tiền. Cũng ngày 24/4/2024, ông có đem 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 440, 442 chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn M với số tiền 2.500.000.000 đồng tại Văn phòng C có trụ sở tại huyện C, tỉnh Long An. Sau khi nhận tiền chuyển nhượng, ông có đưa cho ông Nguyễn Hồng T 01 bịch đen trong đó có 2.000.000.000 đồng và nói với ông T là 1.800.000.000 đồng kêu ông T để chuyển tiền cho ông P2; còn lại 200.000.000 đồng thì ông T sử dụng mục đích cá nhân. Như vậy, ông chỉ còn nợ ông P2 900.000.000 đồng và đồng ý trả tiền cho ông P2.

  3. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hồng T trình bày:

    Vào khoảng 05 - 06 giờ chiều ngày 24/4/2024, ông có nhận số tiền 1.800.000.000 đồng gói trong bịch đen do ông N đưa, chứ không có ký biên nhận hay kiểm đếm gì và ông N nhờ đi chuyển tiền trả nợ cho ông P2 bằng cách chuyển khoản cho ông Nguyễn Thanh P. Ông có đi đến Tiệm cầm đồ Việt Lin địa chỉ số E ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An gặp ông Nguyễn Lê Công Tuấn P1 là con của ông P đưa số tiền 1.800.000.000 đồng để chuyển cho ông Nguyễn Thanh P với phí chuyển tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng ông cũng không nhớ rõ lấy phí là bao nhiêu. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Lê Công T1 P1 trình bày:

    Số tiền 1.800.000.000 đồng mà ông chuyển khoản cho cha của ông là ông Nguyễn Thanh P vào ngày 24/4/2024. Đây là số tiền làm ăn giữa ông với ông P, không có liên quan gì đến khoản tiền 1.800.000.000 đồng như ông N và ông T đã trình bày. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ tiến hành công khai chứng cứ theo quy định của pháp luật và tiến hành hòa giải nhưng không thành nên Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Thành N.

    Buộc ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh P số tiền vay còn nợ là 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng).

  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  3. Về án phí:
    • 3.1. Buộc ông Nguyễn Thành N phải chịu 86.000.000 đồng (T2 mươi sáu triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước.
    • 3.2. Ông Nguyễn Thanh P không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 43.315.000 đồng (Bốn mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng) cho ông Nguyễn Thanh P theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009535 ngày 29/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
  4. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-ADBPKCCT ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất của người có nghĩa vụ.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 27/9/2024, bị đơn ông Nguyễn Thành N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm lại vụ án theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Bị đơn ông Nguyễn Thành N thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn M, cụ thể như sau: Ông N chuyển nhượng hai thửa đất số 440, 442, tờ bản đồ số 1, đất tại phường E, thành phố T cho ông Huỳnh Văn M với giá 2.500.000.000 đồng; ông M đã giao đủ tiền cho ông N khi hai bên ký hợp đồng công chứng. Sau đó, ông N cầm 2.000.000.000 đồng đưa ông Nguyễn Hồng T để trả 1.800.000.000 đồng cho ông Nguyễn Thanh P, còn 200.000.000 đồng ông T tiêu xài. Ông xác định chỉ còn nợ ông P số tiền 900.000.000 đồng và đồng ý trả nợ cho ông P. Tại giai đoạn sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm có cho đối chất giữa ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Lê Công Tuấn P1; hai người làm chứng là bà Huỳnh Ngọc D và ông Võ Tấn T3, ông Huỳnh Văn M. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông M tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để giải quyết trong cùng vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M vì Tòa án cấp sơ thẩm đã ra Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số 440, tờ bản đồ số 01, loại đất ở tại đô thị, tọa lạc tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An mà ông đã ký chuyển nhượng cho ông M làm cho ông M không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh P và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê Công Tuấn P1 không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của ông N. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông N, giữ y bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đối với kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành N đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N trình bày vào ngày 24/4/2024 vợ chồng ông ký hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất số 440, 442, tờ bản đồ số 01, loại đất ở, tọa lạc tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An cho ông Huỳnh Văn M với giá 2.500.000.000 đồng; hai bên thừa nhận đã giao trả tiền xong. Tuy nhiên, ngày 31/5/2024 thửa đất số 440 đã bị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” nên ông M không làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được, ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M. Xét thấy, để giải quyết toàn diện vụ án cần đưa ông M tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để giải quyết trong cùng vụ án này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành N được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng T vắng mặt nhưng đã được Tòa án tống đạt thủ tục hợp lệ hai lần. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.

    Ông Nguyễn Thành N có mặt tại phiên tòa ngày 28/02/2025 nhưng vắng mặt tại phiên tòa ngày 06/3/2025 khi Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và khi Hội đồng xét xử tuyên án.

  3. [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

    Ngày 29/5/2024, ông Nguyễn Thanh P khởi kiện ông Nguyễn Thành N yêu cầu ông N trả 2.700.000.000 đồng còn nợ theo “Giấy mượn tiền ngày 05/4/2024”, thời hạn vay tiền 10 ngày, không thỏa thuận lãi suất. Do ông N vi phạm thời hạn trả nợ nên ông P khởi kiện yêu cầu trả tiền vay. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc ông N có trách nhiệm trả cho ông P số tiền vay còn nợ là 2.700.000.000 đồng. Ngày 27/9/2024, ông N kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm vì ông N đã trả cho ông P 1.800.000.000 đồng thông qua con ông P là anh Nguyễn Lê Công Tuấn P1. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N thay đổi yêu cầu kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đưa thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Huỳnh Văn M tham gia tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông M. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung liên quan đến kháng cáo.

  4. [4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành N, thấy rằng:
    • [4.1] Ông Nguyễn Thanh P và ông Nguyễn Thành N thống nhất vào ngày 05/4/2024, ông N có ký giấy vay của ông P số tiền 2.700.000.000 đồng, thời gian vay 10 ngày. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    • [4.2] Đối với lời trình bày của ông N là vào ngày 24/4/2024, ông Nguyễn Thành N cùng vợ là bà Nguyễn Thị Huỳnh T4 có thỏa thuận lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 442, 440, tờ bản đồ số 01, đất tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An cho ông Huỳnh Văn M với giá 2.500.000.000 đồng, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C có trụ sở tại huyện C, tỉnh Long An. Sau khi nhận tiền chuyển nhượng, ông N đưa cho ông T 2.000.000.000 đồng đựng trong bịch màu đen và nói với ông T chuyển cho ông P 1.800.000.000 đồng trả nợ cho ông N; còn 200.000.000 đồng thì ông T sử dụng. Ông N chỉ còn nợ ông P 900.000.000 đồng và đồng ý trả tiền cho ông P, thấy rằng:
      • [4.2.1] Tại Biên bản đối chất ngày 03/7/2024 giữa ông Nguyễn Thanh P, ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Lê Công Tuấn P1, ông Huỳnh Văn M có nội dung như sau: Ông N trình bày chiều ngày 24/4/2024 ông nhờ Nguyễn Hồng T chuyển khoản trả ông P 1.800.000.000 đồng, như vậy ông N chỉ còn nợ ông P 900.000.000 đồng. Ông P trình bày chiều ngày 24/4/2024 ông có nhận 1.800.000.000 đồng do con ông là Nguyễn Lê Công Tuấn P1 chuyển khoản tiền mua lúa gạo giữa hai cha con. Ông T trình bày chiều ngày 24/4/2024 có nhận của ông N 1.800.000.000 đồng nhờ chuyển khoản trả ông P, ông T chuyển khoản trả tiền cho ông P tại tiệm C1 thời gian từ 17h45 đến 18h; lúc đó có mặt ông P1 con ông P, ông Võ Tấn T3 và ông Nguyễn Thanh H. Ông P1 không thừa nhận có sự việc ông N nhờ ông T trả tiền cho ông P thông qua ông P1, số tiền 1.800.000.000 đồng là giao dịch giữa cha con ông P1 và P (bút lục số 97).
      • [4.2.2] Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/8/2024 đối với ông Huỳnh Tấn Đăng H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số E ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An – là chủ tiệm cầm đồ V, ông H1 trình bày: Do thời gian lâu quá nên ông H1 không nhớ giao dịch lúc 17h45 phút ngày 24/4/2024 tại tiệm C2. Trích xuất camera chỉ lưu được trong 01 tháng, nay đã quá lâu nên không còn lưu trữ để trích xuất theo yêu cầu của Tòa án (bút lục số 99).
      • [4.2.3] Tại Sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng ngày 24/4/2024 do ông P cung cấp (bút lục số 55) thể hiện: Lúc 17 giờ 45 phút ngày 24/4/2024 Nguyễn Lê Công T1 P1 chuyển cho ông P số tiền 1.800.000.000 đồng, thể hiện “N1 chuyen tien”, không có nội dung nào thể hiện ông N trả tiền cho ông P. Cả ông P1 và ông P đều xác định đây là tiền làm ăn riêng của ông P1 và ông P.
      • [4.2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh rằng ông đã trả cho ông P số tiền 1.800.000.000 đồng vào ngày 24/4/2024, ông P và ông P1 không thừa nhận ông N đã trả cho ông P số tiền trên. Các người làm chứng ông N trình bày là ông Võ Tấn T3 và ông Nguyễn Thanh H cũng không có lời trình bày và không đến Tòa án tham gia tố tụng nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông N.
    • [4.3] Đối với lời trình bày của ông N đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Huỳnh Văn M vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thấy rằng: Ngày 29/5/2024 ông Nguyễn Thanh P khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Nguyễn Thành N theo Giấy vay tiền ngày 05/4/2024. Kèm theo đơn khởi kiện, ông P có Đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ và đã thực hiện biện pháp bảo đảm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngày 31/5/2024, Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-BPKCTT “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với thửa đất số 440, diện tích 248,1m², loại đất ở tại đô thị, tờ bản đồ số 1, đất tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An là đúng quy định của pháp luật. Trước đó, ngày 24/4/2024, ông Nguyễn Thành N cùng vợ là bà Nguyễn Thị Huỳnh Thu L Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hai thửa 440, 442, loại đất ở tại đô thị, tờ bản đồ số 1, đất tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An cho ông Huỳnh Văn M là quan hệ dân sự độc lập khác không có liên quan gì trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Thanh P và ông Nguyễn Thành N nên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông M tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp. Nếu có tranh chấp thì ông M có quyền khởi kiện ông N bằng một vụ kiện dân sự độc lập khác. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông N, giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
  5. [5] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm có phần không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận, giữ y bản án sơ thẩm.
  6. [6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành N.

Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 66/2024/DS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh P về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Nguyễn Thành N.

    Buộc ông Nguyễn Thành N có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thanh P số tiền vay còn nợ là 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng).

  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • 3.1. Buộc ông Nguyễn Thành N phải chịu 86.000.000 đồng (T2 mươi sáu triệu đồng).
    • 3.2. Ông Nguyễn Thanh P không phải chịu án phí. Hoàn trả 43.315.000 đồng (Bốn mươi ba triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Thanh P theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009535 ngày 29/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
  4. Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2024/QĐ-ADBPKCCT ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản là quyền sử dụng đất của người có nghĩa vụ.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành N phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009692 ngày 07/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An sang thi hành án phí.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Tân Trụ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Trụ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 177/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 177/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh P "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Nguyễn Thành N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger